Hỏi: Trước giải phóng, tôi mua một căn nhà ở phường 4, quận Phú Nhuận. Sau khi mua xong, tôi xây dựng thành nhà cấp 4, có gác gỗ (có giấy phép xây dựng do quận cấp) và cho thuê được vài năm thì nhà bị cháy. Do không có khả năng, tôi sửa chữa sơ và cho họ ở nhờ từ đó đến nay không lấy tiền. Nay tôi có nhu cầu sử dụng nhà, muốn lấy lại thì phải làm sao? NGUYỄN LÊ (Phường 4 Q.Phú Nhuận)
Trả lời: Theo thư trình bày của ông, yêu cầu giải quyết là “Đòi nhà cho mượn, cho ở nhờ” trước ngày 1-7-1991. Trường hợp này, nếu không có người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân, tổ chức nước ngoài tham gia thì thuộc phạm vi điều chỉnh bởi Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội có hiệu lực ngày 1-1-1999. Do thư ông không nói rõ thời hạn cho mượn, cho ở nhờ là bao lâu nên vấn đề này được quy định tại Điều 4 Nghị quyết 58.
1. Trong trường hợp thời hạn cho mượn, cho ở nhờ nhà ở theo hợp đồng đã hết trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực, thì bên cho mượn, cho ở nhờ được lấy lại nhà ở nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên mượn, bên ở nhờ biết ít nhất là 3 tháng (khoản 1 Điều 4 NQ 58).
2. Trong trường hợp đến ngày Nghị quyết này có hiệu lực mà thời hạn cho mượn, cho ở nhờ nhà ở theo hợp đồng vẫn còn, thì bên cho mượn, bên cho ở nhờ được lấy lại nhà kể từ khi hết hạn hợp đồng nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên mượn, bên ở nhờ biết trước ít nhất 3 tháng (khoản 2 Điều 4 NQ 58).
3. Trong trường hợp thời hạn cho mượn, cho ở nhờ nhà ở không được xác định trong hợp đồng thì bên cho mượn, bên cho ở nhờ nhà ở được lấy lại nhà ở nhưng phải thông báo bằng văn bản cho bên mượn, bên ở nhờ biết trước ít nhất là 6 tháng (khoản 3 Điều 4 NQ 58).
Do vậy, muốn lấy lại nhà, ông phải có văn bản thông báo đòi nhà, nếu hết thời hạn nêu trên mà bên mượn, bên ở nhờ không trả nhà, ông được quyền khởi kiện ra trước tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu bên mượn, bên ở nhờ trả nhà (khoản 2 Điều 25 BLTTDS). Trong trường hợp này, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận sẽ thụ lý hồ sơ đòi lại nhà của ông (điểm a, khoản 1, Điều 33 và điểm a, c khoản 1 Điều 35 BLTTDS).
Luật sư Vĩnh Đại
(Đoàn Luật sư TPHCM)