Động đất tại Việt Nam như thế nào?

Tại hội thảo khoa học quốc tế “Nguy cơ động đất tại Việt Nam” diễn ra hôm qua, 12-3 tại Hà Nội, các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế đều khẳng định, Việt Nam nằm ở khu vực ít có nguy cơ động đất lớn và tần suất diễn ra động đất cũng thấp. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là Việt Nam sẽ tránh được những thảm họa khi động đất diễn ra...

Theo các nhà khoa học, lãnh thổ Việt Nam nằm ở vùng đất có cấu trúc địa chất – kiến tạo phức tạp, tuy không nằm trên các vành đai động đất – núi lửa đang hoạt động, nhưng cũng không phải là vùng đất bền vững khó xảy ra động đất.

Theo đó, các vùng có nguy cơ xảy ra động đất từ 6,0 – 7,0 độ richter ở Việt Nam gồm: đới đứt gãy trên hệ thống sông Hồng, sông Chảy; đới đứt gãy Lai Châu – Điện Biên; đới sông Mã, Sơn La, sông Đà; đới Cao Bằng, Tiên Yên; đới Rào Nậy – sông Cả; đới Đakrông – Huế; đới Trường Sơn; đới sông Ba; đới ven biển miền Trung... Ngoài những vùng này, trên lãnh thổ Việt Nam còn có khoảng 30 khu vực có nguy cơ động đất với cường độ xấp xỉ 5,0 độ richter. 

Theo PGS-TS Cao Đình Triều (Viện Vật lý địa cầu, thuộc Viện KH-CN Việt Nam), những nghiên cứu bao gồm cả lịch sử và hiện tại cho thấy, động đất cực đại (Mmax) trên lãnh thổ Việt Nam chỉ nằm ở mức 6,5-7,0 độ richter. Động đất ở thủ đô Hà Nội có Mmax = 5,5 - 6,0, còn khu vực TPHCM thì Mmax = 5,5 độ richter.

Các nghiên cứu cho thấy, khu vực có nguy cơ động đất cao nhất tại Việt Nam là vùng Tây Bắc trên đới đứt gãy Lai Châu – Điện Biên. Đây cũng là khu vực thường xuyên bị ảnh hưởng dư chấn do những trận động đất xảy ra ở khu vực Bắc Lào và Tây Nam Trung Quốc, những nơi có nguy cơ động đất cao và tần suất xuất hiện động đất lớn.

Hầu như năm nào, khu vực Điện Biên – Lai Châu cũng có động đất nhỏ hoặc ảnh hưởng dư chấn động đất từ các khu vực nói trên. Trận lớn nhất gần đây là vào năm 2001 với cường độ 4 độ richter.

Ngay Hà Nội và khu vực TPHCM, trong vài năm trở lại đây cũng đã bị ảnh hưởng dư chấn rõ rệt do động đất ở Trung Quốc và ngoài biển Đông gây ra.

Hiện nay, Viện Vật lý địa cầu đã xây dựng bản đồ nguy cơ động đất chi tiết cho các vùng như: Hà Nội, Điện Biên, Tuần Giáo, Mường La, Mường Lay, Lai Châu, TPHCM, Tây Nguyên, Nam bộ, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái.

Theo PGS-TS Nguyễn Hồng Phương, Phó Giám đốc Trung tâm Báo tin động đất và cảnh báo sóng thần (Viện Vật lý địa cầu) cho biết, hiện nay, việc phân vùng tai biến quy mô động đất ở TPHCM đã có những đề tài nghiên cứu khá chi tiết và đầy đủ. Hà Nội thì đã thực hiện sớm hơn TPHCM.

Tuy nhiên các kết quả này gần như vẫn nằm trong các báo cáo hoặc sách vở chứ chưa được ứng dụng trong thực tiễn. Đó là nguy cơ rất xấu cho TPHCM và Hà Nội, nếu động đất xảy ra ở 2 đô thị này.

Theo TS Lê Tử Sơn (Viện Vật lý địa cầu), việc quan sát động đất ở Việt Nam được bắt đầu từ 1923 với việc xây dựng trạm địa chấn đầu tiên tại Phù Liễn (Hải Phòng).

Cho đến nay mạng trạm địa chấn đã có 24 trạm chu kỳ ngắn ghi số. Mặc dù còn nhiều hạn chế về phân bố cũng như về thiết bị, hoạt động quan sát động đất thời gian qua đã đóng góp nhiều trong sự phát triển chung của đất nước.

Trong thời gian tới, mạng lưới trạm địa chấn sẽ được mở rộng lên 30 trạm, có phân bố đều trên toàn quốc, được trang bị máy thu chấn dải rộng và kết nối vệ tinh nhằm đáp ứng yêu cầu về báo tin động đất và cảnh báo sóng thần ở Việt Nam.

TRẦN LƯU 

Các tin, bài viết khác