Giải thưởng Võ Trường Toản năm 2008: Những người “đưa đò” tận tụy

Cô giáo của những mảnh đời cơ cực
Giải thưởng Võ Trường Toản năm 2008: Những người “đưa đò” tận tụy

Họ là những người khác nhau về tuổi đời, tuổi nghề nhưng có một điểm chung là cống hiến âm thầm, với tất cả cái tâm trong sáng vì thế hệ trẻ. Và họ xứng đáng được giải thưởng Võ Trường Toản năm 2008 (do Báo SGGP phối hợp với Sở GD-ĐT TPHCM tổ chức).

Cô giáo của những mảnh đời cơ cực

Giải thưởng Võ Trường Toản năm 2008: Những người “đưa đò” tận tụy ảnh 1

Cô Phạm Thị Thu Thảo

“Tôi dạy N. năm em học lớp 6. Đến năm lớp 9, em từ giã cô giáo về quê lấy chồng. 5 năm sau, em quay lại trường xưa với một trái tim tan nát: chồng bỏ. N. lên TP “làm lại cuộc đời” bằng cách đăng ký học bổ túc. Nhưng để nuôi thân, nuôi con và gánh nặng gia đình dưới quê, em chấp nhận làm “gái nhảy”.

Nhiều lần em mệt mỏi tâm sự với tôi rằng ở môi trường đèn mờ xanh đỏ, em phải uống thuốc lắc để sôi động hơn mới cạnh tranh nổi với những “đồng nghiệp” khác. Sau những giây phút cuồng nhiệt giả tạo trôi qua, em chỉ còn lại một thân xác rã rời, một tinh thần mệt mỏi. N. nói: “Đời em coi như bỏ đi rồi, kiếp sống thừa vì người khác”.

N. là một trong số những mảnh đời bất hạnh muốn vươn lên bằng con đường học vấn mà cô Phạm Thị Thu Thảo, giáo viên ở Trung tâm Giáo dục thường xuyên (TTGDTX) quận Phú Nhuận có cơ duyên giảng dạy. 18 năm gắn bó với hệ bổ túc, cô chứng kiến nhiều học viên có cuộc sống bi kịch hơn phim. Có em nữ sinh chân chất từ dưới quê lên Sài Gòn một thời gian ngắn, đua đòi theo bạn xấu và bỏ nhà đi hoang.

Gia đình dưới quê không hay biết, cô liên hệ với chú của em thì bị nói như dội nước lạnh vào mặt: “Nó hư hỏng, tôi không có trách nhiệm gì”. Vậy là cô phải kiên trì khuyên bảo, âm thầm giúp đỡ trò về đường ngay lối thẳng. Nhà cô gần trường, nên hễ có chuyện buồn là học trò chạy sang nhờ cô gỡ rối.

Cô đến với hệ bổ túc bằng một sự tình cờ. Theo chồng về Sài Gòn sau hai năm giảng dạy ở Trường chuyên THCS Phan Châu Trinh TP Buôn Ma Thuột, cô rẽ qua dạy bổ túc khi TTGDTX Phú Nhuận đang thiếu giáo viên (GV) dạy văn. Cô gắn với bổ túc và nhất mực từ chối những lời mời vào biên chế ở trường phổ thông – môi trường thuận lợi hơn nhưng sẽ không cần cô bằng ở hệ bổ túc. Hệ phổ thông sẽ không có những học trò đi làm từ 6 giờ sáng, tối tan ca không kịp ăn cơm, vội vàng chạy vào lớp học, đợi cô quay mặt vào bảng thỉnh thoảng cúi xuống bàn gặm bánh mì cho đỡ đói.

Hệ phổ thông cũng sẽ hiếm có những học trò tranh thủ làm bài tập lúc nghỉ trưa hoặc khi quán vắng khách. Bà Mai, Giám đốc TTGDTX quận Phú Nhuận nhận xét về cô Phạm Thị Thu Thảo: “Cô là GV giỏi của TT từ nhiều năm qua, nhiệt tình trong công tác giảng dạy và năng động sáng tạo trong tổ chức sinh hoạt ngoại khóa, chuyên đề”.

Bảng tóm tắt thành tích đã được học trò của cô chú thích thêm trong cuốn lưu bút viết tặng cô: “Người thầy mẫu mực, chăm chút đầu tư soạn bài ở nhà, dò tìm trên mạng những câu chuyện điển hình gắn với nội dung bài học để bài học trên lớp dễ hiểu hơn”. “Em không có thời gian học bài nên chỉ hiểu bài trên lớp. Khi đi thi, em nhắm mắt lại, tưởng tượng những lời cô giảng trên lớp, cứ thế em viết đầy cả hai trang giấy”...

Cô mơ ước làm nhà văn mà chất liệu “sống” là từ những hoàn cảnh cơ cực của trò. Nhưng việc giảng dạy đã choán hết thời gian dành cho văn chương. Và sâu xa hơn, số học viên thành công quá ít để câu chuyện của cô kết thúc có hậu hơn. “Khi nào em có công việc đàng hoàng, em sẽ tìm gặp cô”, đó là lời tạm biệt của N. với cô giáo cũ. Thế nhưng, mấy năm rồi cô vẫn chưa gặp lại trò...

Không ép trẻ bỏ thói quen ngay những ngày đầu đến lớp

 
Giải thưởng Võ Trường Toản năm 2008: Những người “đưa đò” tận tụy ảnh 2
Cô Do hướng dẫn các cháu ở góc trò chơi trong lớp. Ảnh: L.L.

“Từ hồi còn nhỏ, mỗi khi đi ngang các trường mầm non (MN), nghe tiếng các cháu bi bô tập hát, tôi đã nuôi dưỡng ước mơ được trở thành cô nuôi dạy trẻ để chăm sóc các em”, cô Đoàn Thị Tự Do, GV nhóm 18-24 tháng, Trường MN 7A (quận Bình Thạnh) tâm sự.

Học hết cấp 2, vì điều kiện gia đình quá khó khăn, cô Do phải đi làm công nhân may thêu để kiếm tiền phụ giúp gia đình nhưng khát khao được làm cô nuôi dạy trẻ vẫn luôn thôi thúc. Một dịp tình cờ thấy phòng giáo dục tuyển giáo viên MN, cô nộp đơn và được nhận vào Nhà trẻ Hoa Phượng 7 (nay là MN 7B).

Năm 2000, cô được cử về dạy tại Trường MN 7A. Bằng cái tâm của mình, cô Do là GV đầu tiên trong trường có những sáng kiến giúp trẻ nhanh chóng ổn định tâm lý, hòa nhập với các bạn. “Khi trẻ mới đến lớp, nên chiều theo nếp của gia đình trẻ, đến khi trẻ mến cô thì tập cho trẻ bớt những thói quen nhõng nhẽo ở nhà, chứ nếu bắt ép trẻ bỏ hết những thói quen cùng một lúc sẽ khiến trẻ hụt hẫng”, cô Do bộc bạch. Với cách làm đó, cô được phụ huynh tin yêu, nhiều trẻ đã đến tuổi lên lớp trên rồi, nhưng phụ huynh vẫn xin cho con học lại lớp của cô Do.

Cô hiệu trưởng Trần Xuân Đào cho biết: “Đối với trẻ, cô Do đúng là một người mẹ hiền. Nhóm tuổi 18-24 tháng là những trẻ mới đến trường lần đầu tiên nên rất khó chăm sóc vì các cháu hay khóc đòi mẹ, khiến cho các bà mẹ trẻ rất lo lắng, phương pháp dạy trẻ của cô Do đã giúp trẻ sớm ổn định tâm lý. Đây là một trong những công việc khó khăn nhất của các cô giáo MN nhưng cô Do đã làm rất tốt”.

Nói đến cô Do, các đồng nghiệp còn cảm phục cô ở sự miệt mài học tập. Bước vào ngành chỉ là một cô gái học hết cấp 2, nhưng 23 năm gắn bó với nghề cô có một quá trình làm việc và miệt mài học tập. Ở trường 10 -12 tiếng mỗi ngày, nhưng cô vẫn tranh thủ học bổ túc cấp 3, rồi học trung cấp, đến cao đẳng và hiện nay cô đang học để lấy bằng đại học.

“Vẽ” cuộc sống cho học sinh khiếm thị

Giải thưởng Võ Trường Toản năm 2008: Những người “đưa đò” tận tụy ảnh 3

Thầy Đỗ Minh Hoàng Đức

Năm 1999-2000, khi CNTT chưa “hot”, học sinh (HS) bình thường cũng khó được học huống hồ HS khiếm thị. Thiếu máy móc, không thấy màn hình, không biết tiếng Anh… các em khiếm thị Trường Phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu không tiếp cận được công nghệ cao. Thầy Đỗ Minh Hoàng Đức tìm cách chuyển phần mềm tiếng Anh thành chương trình cho HS khiếm thị. Đến khi internet trở thành kênh thông tin hấp dẫn, HS khiếm thị lại bị thua thiệt.

Thầy Hoàng Đức bắt tay viết phần mềm duyệt internet bằng âm thanh dành cho người khiếm thị. Ban ngày đi dạy, tối về cặm cụi viết code, chuẩn bị cơ sở dữ liệu để chạy chương trình… Mất 1 năm trời, phần mềm trên ra đời, giúp HS Trường Nguyễn Đình Chiểu tiếp cận thế giới nhiều “màu sắc” trên internet. “Nhìn mà thương cái nét mặt hớn hở, chau lại khi các em tiếp nhận thông tin thời sự của cuộc sống”, thầy tâm sự. Thầy nghiên cứu tiếp các phần mềm luyện tập từ vựng tiếng Việt, tiếng Anh; phần mềm luyện chính tả dành cho HS khiếm thị.

Duyên cớ đưa thầy Đỗ Minh Hoàng Đức đến ngôi trường này thật ngẫu nhiên. “Năm 1997, khi học năm cuối cao đẳng sư phạm, đọc được thông báo Trường giáo dục đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu cần tuyển 2 GV. Mấy tháng sau, thông báo vẫn còn nguyên, nghĩa là chưa ai chịu về. Mình về thử…”. Cuộc “thử nghiệm” đã gắn kết thầy Hoàng Đức với sự nghiệp trồng người vất vả. “Cái khó lớn nhất trong viết phần mềm cho HS khiếm thị là người dạy phải tâm lý, mô tả sao cho hình ảnh sinh động để các em hình dung và thao tác đúng”, thầy Đức bộc bạch. Trách nhiệm nối tiếp đam mê, thầy bắt đầu viết phần mềm dành cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo bắt đầu làm quen với âm thanh cuộc sống.

Thật lạ, người có trong tay tấm bằng cử nhân sư phạm, bằng lập trình viên và chứng chỉ kỹ sư hệ thống mạng máy tính của Microsoft và nhiều giải thưởng sáng tạo… lại chấp nhận gắn bó với nghề giáo, mức lương tròm trèm 3 triệu đồng/tháng. “Phải chăng đó là sự dấn thân?” – “Tôi không cao cả mà chỉ có cái tình với các em…” thầy Đức cười hiền.

Yêu trò, yêu nghề

Giải thưởng Võ Trường Toản năm 2008: Những người “đưa đò” tận tụy ảnh 4

Thầy Trần Huy Phúc. Ảnh: T.HÙNG

“Tình yêu nghề “gõ đầu trẻ” bén duyên ngay từ khi tôi còn học phổ thông. Còn nhớ lúc đó, mỗi khi mẹ dạy kèm các em nhỏ tại nhà, tôi lén nhìn rồi dần dần thấy yêu mến các em từ lúc nào không biết. Cứ hôm nào nghỉ học là mình cảm thấy trong nhà rất buồn vì thiếu bóng dáng các em”, thầy Trần Huy Phúc, GV Trường TH Nguyễn Bình ấp 2 xã Phú Xuân (Nhà Bè) thổ lộ.

Học xong lớp 12, thầy tính thi ĐH, nhưng trong thời gian đó huyện Nhà Bè thiếu GV trầm trọng nên thầy được điều động đi học lớp cấp tốc, rồi về dạy tại Trường Tiểu học Nhà Bè (nay đổi tên thành Trường TH Nguyễn Trực). Thế rồi tình cảm thầy trò ngày càng bền chặt và nó như duyên nợ không thể bỏ được.

Suốt 14 năm trên bục giảng, ấn tượng nhất với thầy Phúc là hình ảnh 35 em học sinh lớp 4 Trường TH Nhà Bè khóc lóc, một mực xin thầy ở lại dạy các em. Năm 1994, khi về Trường TH Nhà Bè, thầy được phân công dạy lớp 4. “Nhưng đúng một tháng sau trường thiếu GV dạy lớp 5 nên hiệu trưởng chuyển tôi kế nhiệm. Khi nghe tin tôi đi, cả lớp không chịu học, các em òa khóc và tôi cũng kìm lòng không nỗi… Cũng từ lúc ấy tôi thấy không thể thiếu các em và nó trở thành động lực giúp tôi tự tin hơn khi đứng trên bục giảng”, thầy Phúc tâm sự.

Chính vì yêu trò, yêu nghề mà thầy đã âm thầm giấu gia đình, tự ý bỏ ngang ngành tài chính - kế toán khi đã học đến năm 3 để quyết chí theo nghề sư phạm. Đôi khi trong cuộc sống có nhiều quyết định làm thay đổi cả cuộc đời nhưng với thầy, hàng ngày được tiếp xúc với các em, truyền đạt cho các em kiến thức là điều hạnh phúc lớn nhất.

Cô Trần Thị Lợi, Hiệu trưởng Trường TH Nguyễn Bình cho biết, chúng tôi không chạy theo thành tích, nhưng qua nhiều lần dự giờ, kiểm tra kiến thức các em học sinh do thầy Phúc chủ nhiệm, tôi rất bất ngờ. Thứ nhất, học sinh rất tự tin, mạnh dạn chứ không rụt rè như nhiều lớp khác. Điều này giúp các em chủ động đặt vấn đề trao đổi trực tiếp với thầy khi gặp bài toán khó, một ý chưa rõ trong bài văn. Thứ hai là các em học sinh đi học rất đều, hầu như không nghỉ học.

Nhóm PV

Tin cùng chuyên mục