Bài dự thi “Hoa giữa đời thường”

Giúp chồng thắng AIDS

Giúp chồng thắng AIDS

Án ngữ lối vào ngôi nhà nhỏ nép mình bên bờ sông Lô của vợ chồng anh Nguyễn Văn Bình (SN 1963) và Cao Thị Chung (SN 1968) là hai lò gạch đồ sộ cùng những hàng gạch mộc chạy tít tắp ra tận mép dòng sông Lô bãi dài ngô lau núi rừng âm u. Lách người qua những hàng gạch, những liếp lứa, chúng tôi lọt vào một căn nhà ấm cúng để háo hức khám phá một câu chuyện cổ tích giữa đời thường: một người phụ nữ nhân hậu đã giúp chồng chiến thắng căn bệnh thế kỷ - AIDS.

  • Oan nghiệt

Mắt ngấn lệ, chị Chung buồn bã quay chậm lại bánh xe ký ức: “Cái ngày cuối năm 2000 ấy, tôi đang bán vải ở chợ thì chị Nguyễn Thị Hà, Trạm trưởng trạm y tế xã ra gặp, hỏi chiều có ở nhà không để đến chơi. Từ lúc ấy, tôi cứ thắc tha thắc thỏm. Đầu giờ chiều, chị ấy đến nhà, vòng vo rào đón mãi rồi cũng đành nẫu ruột báo cho tôi cái tin sét đánh: người chồng vẫn đầu gối tay ấp của tôi mắc căn bệnh thế kỷ - AIDS. Tôi rú lên, quằn thắt từng khúc ruột, khóc tu tu rồi ngồi chết lặng”.

Giúp chồng thắng AIDS ảnh 1

Hạnh phúc đơn sơ này của anh Bình, chị Chung đã được xây bằng rất nhiều nước mắt.

Cưới nhau năm 1991, dù cuộc sống còn nhiều thiếu thốn nhưng cặp vợ chồng Chung - Bình luôn đắm chìm trong hạnh phúc. Chồng đóng gạch, đốt lò, vợ có sạp vải ở chợ, cuộc sống êm đẹp trôi qua. Thế rồi năm 1999, cuốn vào cơn lốc muốn đổi đời nhanh chóng, anh Bình nghỉ làm gạch, hăm hở lên vùng Lục Yên, Yên Bái đào đá đỏ. Rừng thiêng nước độc, xa gia đình, lao động vất vả, lại đói ăn, khát uống, vậy mà chỉ thấy vàng mắt vàng da chứ bạc vàng đâu có thấy.

Chính vào những khoảnh khắc buồn chán vì thất vọng ấy, lại nghe bọn xấu rủ rê, anh Bình đã tìm đến ma túy để giải khuây, ban đầu là hít, rồi chích và con virus HIV quái ác len vào cơ thể anh lúc nào không hay. Giấc mộng đá màu được đổi bằng cái thân tàn ma dại, anh Bình lê lết về nhà ăn bám vợ…

Cái tin anh Bình nhiễm căn bệnh chết người lan nhanh như chớp. Họ mạc xa lánh, dân làng khinh miệt, rồi cả xã Hùng Lô, huyện Phù Ninh, Phú Thọ biết tiếng. Anh Bình thì chán đời nên suốt ngày rượu chè, phá phách; hai cháu nhỏ đòi bỏ học vì bị bè bạn trêu chọc, ghẻ lạnh. Sợ mình cũng nhiễm bệnh, chết đi thì ai nuôi những đứa con thơ dại nên chị Chung chẳng thiết ăn uống, cứ nằm bẹp trên giường mà khóc, người gầy rộc, nhăn nhúm như bà lão. Cái ngôi nhà nhỏ nằm nép mình bên bờ sông Lô thao thiết chảy ấy, trước nên thơ bao nhiêu thì nay điêu tàn bấy nhiêu.

  • Không bao giờ tuyệt vọng

Đau đớn, xót xa nhưng nghĩ đến con, chị Chung lại ngồi dậy. Việc làm tỉnh táo đầu tiên của chị Chung là tất tả nhảy xe khách lên bệnh viện tỉnh để làm xét nghiệm. Vạ vật suốt một ngày để phấp phỏng chờ đợi, cầm tờ giấy báo kết quả, chị Chung khóc như mưa vì mừng rỡ khi biết máu mình vẫn âm tính. May mắn thoát lưỡi hái tử thần thì phải can đảm mà sống cho xứng đáng, tâm niệm thế nên chị nung nấu quyết tâm giúp chồng cai nghiện ma túy để sống những ngày có ích dù ít ỏi.

“Từng nghĩ đến cái chết nhưng khi vợ ân cần ở bên, lúc động viên, khuyên nhủ, khi khích tướng, lòng tự trọng trong tôi trỗi dậy, tôi lại cố sống vì con cái, sống để chứng tỏ mình không là đồ bỏ đi” - anh Bình nhớ lại. Ba tháng anh cai nghiện tại nhà là bằng ấy thời gian chị quên ăn quên ngủ để cùng anh chung lưng đấu cật, giành giật với từng cơn vật vã. Chị nhượng lại sạp vải ngoài chợ để có thời gian ở nhà đút cho anh từng miếng cơm, ngụm thuốc, đưa anh đi chơi đây đó cho khuây khỏa, xua đi cơn thèm ma túy. Trời không phụ lòng người, những cơn vật vã của anh thưa dần, chiếc xích để anh dùng trói chân mình vào cột nhà mỗi khi lên cơn nghiện, rồi cũng được gửi theo gánh hàng rong của bà buôn đồng nát…

“Khi đã cai nghiện thành công, cô ấy lại khuyên tôi nên phát triển nghề làm gạch. Vợ chồng vay mượn khắp gia đình, họ hàng được 100 triệu đồng, thuê đất rồi đầu năm 2001 dựng hai cái lò để bắt đầu một cuộc đời mới” - anh Bình nhớ lại. Những ngày đầu, ngoài 4 thanh niên cùng cảnh ngộ, chẳng ai dám làm thuê cho anh chị vì sợ bị lây nhiễm căn bệnh chết người. Tê tái vì miệng lưỡi thế gian nhưng một lần nữa, chị Chung lại không chịu bỏ cuộc.

Chị cùng chị Nguyễn Thị Hà, Trạm trưởng Trạm Y tế xã, mang tài liệu về HIV/AIDS ra tuyên truyền ngay tại lò gạch ở cái xóm Văn Tiến ấy rồi lên làng trên, xuống xóm dưới nhỏ to tâm sự để bà con hiểu rõ về căn bệnh thế kỷ nhưng không lây nhiễm nếu biết cách phòng tránh, đặc biệt để mọi người hiểu rằng AIDS không có nghĩa là hết, rằng mọi người không nên xa lánh và cần trân trọng, hợp tác với những việc làm hướng thiện lúc cuối đời của những bệnh nhân AIDS.

Mưa dầm thấm lâu, mọi người dần dần hiểu và đến với anh chị. Giờ thì sóng gió đã qua, hai lò gạch của anh chị đang tạo công ăn việc làm cho 80 lao động trong vùng với thu nhập bình quân là 1 triệu đồng/người/tháng. Trả hết nợ, anh chị còn gửi ngân hàng được 100 triệu đồng để dành cho hai con ăn học.

Ráng chiều nhuộm đỏ ngôi nhà nhỏ bên bờ đê vi vút gió. Bé Cường, bé Trang vừa đi học về, quấn quýt bên bố mẹ, tiếng cười ríu rít từ ngôi nhà lan ra tận chân sóng dòng Lô. Xiết chặt tay tôi lúc chia tay, mắt anh Bình rưng rưng: “Đời tôi thật may mắn khi có người vợ vừa thủy chung, vừa dũng cảm, cô ấy đã sinh ra tôi một lần nữa”. Anh hàng xóm Nguyễn Văn Hải thì thán phục: “Cuộc sống sung túc, hai con khỏe mạnh, học giỏi, gia đình không lúc nào vắng tiếng cười... khối người lành lặn không làm được như thế”. 

ĐỖ QUANG TUẤN HOÀNG

Tin cùng chuyên mục