Hệ thống ngân hàng: Vượt sóng lớn

Những tháng đầu năm 2008, nền kinh tế đất nước nói chung và hoạt động của hệ thống ngân hàng nói riêng gặp rất nhiều khó khăn, do tác động của lạm phát, khủng hoảng tài chính, diễn biến không thuận lợi của kinh tế vĩ mô...

Trong đó việc thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt của Ngân hàng Nhà nước để kìm giữ lạm phát và ổn định giá cả có tác động trực tiếp đến hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) nói chung và các NHTM cổ phần (NHTMCP) nói riêng.

Tuy nhiên, những kết quả đạt được trong hoạt động kinh doanh của các NHTMCP trên địa bàn TPHCM trong hơn 9 tháng qua có ý nghĩa rất lớn và là cơ sở để hệ thống các ngân hàng tiếp tục tăng trưởng, phát huy tốt vai trò của định chế tài chính trung gian, thúc đẩy kinh tế thành phố phát triển và góp phần quan trọng vào việc ổn định kinh tế vĩ mô.

Xu hướng phát triển tích cực

Khách hàng giao dịch tại ViBank sáng 23-10-2008. Ảnh: ĐỨC THÀNH

Thực tế, trong những tháng đầu năm, thị trường tiền tệ và hoạt động ngân hàng trên địa bàn TP diễn biến rất phức tạp: lãi suất liên tục biến động, tăng nhanh và tăng cao; huy động vốn của các ngân hàng gặp khó khăn do sự dịch chuyển tiền gửi của khách hàng gắn liền cuộc “chạy đua lãi suất” giữa các ngân hàng; nhu cầu thanh khoản cao... và hoạt động của các NHTMCP cũng không nằm ngoài quá trình đó.

Tuy nhiên, đến nay những khó khăn đó đã dần được khắc phục, thị trường tiền tệ và ngoại hối đã ổn định; thanh khoản của hệ thống ngân hàng đã cải thiện đáng kể... Hoạt động kinh doanh của các NHTMCP tiếp tục duy trì sự ổn định và đạt được những kết quả rất khích lệ. Điều này phản ánh trên 3 kết quả nổi bật sau đây:

- Một là, thanh khoản của các NHTMCP đã được cải thiện đáng kể, áp lực về vốn đã giảm và các ngân hàng đang nhắm đến kế hoạch kinh doanh trung -dài hạn. Điều này đã được thể hiện rõ: Nhu cầu vốn cho thanh toán không còn cao như các tháng đầu năm, áp lực về thanh khoản đã giảm rất nhiều.

Lãi suất giao dịch trên thị trường liên ngân hàng không còn biến động mạnh và đã ổn định hơn, trong thời gian qua liên tục duy trì ở mức phổ biến từ 13,5% - 14%/năm đối với loại kỳ hạn cho vay qua đêm và 15% - 17,5% đối với loại kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần. Vốn khả dụng luôn được bảo đảm và duy trì ở mức đủ.

Hiện tượng “chạy đua lãi suất”, tăng lãi suất huy động liên tục như trong những tháng đầu năm đã chấm dứt. Các NHTMCP đã và đang thay đổi lãi suất theo hướng phù hợp hơn với các kỳ hạn tiền gửi. Trong đó giảm mạnh lãi suất huy động không kỳ hạn; điều chỉnh lãi suất theo hướng lãi suất huy động kỳ hạn ngắn thấp hơn lãi suất huy động kỳ hạn trung dài hạn.

- Hai là, cơ cấu nguồn vốn và sử dụng vốn hợp lý hơn. Trong đó các NHTMCP đã điều chỉnh dư nợ tín dụng phù hợp hơn trong điều kiện nền kinh tế lạm phát. Khai thác và sử dụng vốn hợp lý, giảm tỷ lệ sử dụng vốn từ thị trường chủ yếu đáp ứng nhu cầu cho thanh khoản và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của mỗi ngân hàng để cho vay, từng bước cơ cấu lại nguồn phù hợp với nguyên tắc sử dụng vốn và bản chất của thị trường này. Tỷ lệ dư nợ cho vay trung dài hạn; tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn đều ở mức hợp lý và theo đúng quy định về tỷ lệ an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.

Mặt khác, các NHTMCP đã cơ cấu lại dư nợ tín dụng hợp lý. Trong đó chủ yếu tăng trưởng tín dụng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại dịch vụ. Đặc biệt là lĩnh vực hoạt động xuất nhập khẩu. Tín dụng cho vay bất động sản và cho vay kinh doanh đã được điều chỉnh hợp lý theo xu hướng giảm, tỷ lệ cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán chiếm rất thấp so với tổng dư nợ cho vay.

- Ba là, kết quả kinh doanh của các NHTMCP đặc biệt là các ngân hàng lớn là rất tốt. Trong đó một số NHTMCP kết quả thu nhập – chi phí đã vượt so với cả năm 2007. Đây là một trong những kết quả quan trọng và nổi bật nhất trong điều kiện hiện nay, là nền tảng để các NHTMCP tiếp tục duy trì sự phát triển trong thời gian tới và các năm tiếp theo. Kết quả này không chỉ có ý nghĩa đối với hệ thống ngân hàng mà còn tác động tích cực đối với thị trường tài chính, thị trường chứng khoán trong một mục tiêu chung là ổn định kinh tế vĩ mô.

Cơ sở để phát triển ổn định

Những kết quả đạt được của các NHTMCP trên địa bàn TPHCM trong hơn 9 tháng đầu năm nay khẳng định sự phát triển của hệ thống ngân hàng; khẳng định sự vượt qua khó khăn của các ngân hàng trong điều kiện nền kinh tế lạm phát và sự biến động của thị trường tài chính thế giới còn nhiều phức tạp. Đây là ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với các NHTMCP, mà góp phần đắc lực vào mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Kết quả này vừa khẳng định, vừa phản ánh sự linh hoạt, năng động trong hoạt động kinh doanh của các NHTMCP.

Trong đó, việc thực hiện cho vay doanh nghiệp xuất khẩu bằng VND với lãi suất ngoại tệ của một số NHTMCP đã mang lại những hiệu ứng rất tích cực cho doanh nghiệp xuất khẩu và cho chính các ngân hàng. Hoạt động này một mặt đáp ứng được vốn cho doanh nghiệp xuất khẩu với chi phí hợp lý, mặt khác tạo điều kiện cho các ngân hàng sử dụng nguồn vốn ngoại tệ và VND linh hoạt và hiệu quả.

Bên cạnh đó, các hoạt động dịch vụ ngân hàng tiếp tục phát triển. Trong đó dịch vụ thẻ thanh toán nói chung và dịch vụ thẻ ATM tiếp tục được các NHTMCP quan tâm phát triển – với mục tiêu trở thành dịch vụ ngân hàng được sử dụng phổ biến hơn cho người dân. Đây cũng là cơ sở để các NHTMCP phát triển bền vững trong tương lai.

Vấn đề cần quan tâm

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy để duy trì và tiếp tục phát huy những kết quả đạt được trong bối cảnh hiện nay, các NHTMCP đang đặc biệt quan tâm đến một số vấn đề như: Tiếp tục thực hiện các giải pháp về nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao năng lực tài chính thông qua việc thực hiện các phương án tăng vốn điều lệ. Giải pháp này một mặt bảo đảm thực hiện đúng chỉ đạo của Chính phủ về mức vốn điều lệ tối thiểu khi kết thúc năm 2008, mặt khác tăng vốn điều lệ sẽ tạo điều kiện cho các NHTMCP giảm bớt áp lực về nhu cầu vốn, có điều kiện để giảm chi phí đầu vào, chủ động về nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh.

Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với một vài NHTMCP hiện đang gặp những khó khăn trong hoạt động kinh doanh, đồng thời tạo cơ sở để các ngân hàng này phát triển trong thời gian tới. Đồng thời, tăng cường các giải pháp tín dụng, hạn chế tối đa rủi ro tín dụng phát sinh, bảo đảm nâng cao chất lượng khoản vay. Các ngân hàng tiếp tục khai thác và sử dụng nguồn vốn hợp lý, phù hợp với khả năng nguồn vốn của ngân hàng mình.

Hạn chế tối đa rủi ro kỳ hạn cũng như bảo đảm cân đối giữa nguồn vốn VND và ngoại tệ. Hầu hết các ngân hàng nắm bắt kịp thời diễn biến thị trường tiền tệ, thị trường hàng hóa...; có phân tích, dự báo thông tin tốt phục vụ cho hoạt động kinh doanh, hạn chế tối đa rủi ro do biến động của các yếu tố thị trường (lãi suất, tỷ giá, giá vàng...) đối với các lĩnh vực hoạt động liên quan như kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng...

Đức Khuê

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất