Họa sĩ Uyên Huy: Không phải hậu hiện đại là gây “sốc”

ảnh
Họa sĩ Uyên Huy: Không phải hậu hiện đại là gây “sốc”

Nhiều lớp sinh viên mỹ thuật ra trường, khi nhắc đến họa sĩ Uyên Huy, vẫn gọi thân mật “thầy Mười” (Nhà giáo Ưu tú Huỳnh Văn Mười). Sinh trưởng tại Sài Gòn và đam mê ngành mỹ thuật, họa sĩ Uyên Huy (ảnh) cho rằng ông thật hạnh phúc và tự hào khi gắn bó hơn 44 năm ở ngôi trường có tiền thân là Trường Vẽ Gia Định. Hiện ông đang là Trưởng khoa Mỹ thuật ứng dụng, Trường Đại học Mỹ thuật TPHCM, đồng thời cũng là Chủ tịch Hội Mỹ thuật TPHCM.

- PV: Thưa họa sĩ Uyên Huy, khoa Mỹ thuật ứng dụng vẫn là khoa “khá trẻ” khi tên gọi chính thức của nó bắt đầu từ năm 2005, điều này có nghịch lý không khi có ý kiến cho rằng TPHCM là “kinh đô của mỹ thuật ứng dụng và quảng cáo”?

Họa sĩ Uyên Huy: Không phải hậu hiện đại là gây “sốc” ảnh 1

Họa sĩ UYÊN HUY: Thực ra, trong mỹ thuật, nghệ thuật ứng dụng và nghệ thuật tạo hình luôn đi đôi. Phải nói cho rõ rằng, từ năm học 2005 trở về trước, tại Trường Đại học Mỹ thuật TPHCM, mỹ thuật ứng dụng và một số ngành khác như sơn dầu, sơn mài, lụa đều nằm trong khoa Hội họa. Từ năm 1990 đến năm 2005, tôi được phân công làm chủ nhiệm phụ trách khoa Hội họa. Bắt đầu ở năm học 2005-2006, khi khoa Mỹ thuật ứng dụng được tách ra thành khoa độc lập, tôi được phân công đảm nhiệm khoa này.

Về học thuật và thực tế, Mỹ thuật ứng dụng (Applied Art) hiện nay là một lĩnh vực cực kỳ lớn, nó gắn liền với tình hình phát triển kinh tế của cả nước, không riêng gì ở một trung tâm kinh tế, văn hóa lớn như TPHCM. Nhưng cũng có lúc nó bị mờ nhạt là do chúng ta còn coi nhẹ mặt ứng dụng hơn tạo hình, và giảng dạy chủ yếu là thiết kế đồ họa (Graphic Design).

Tuy nhiên, trong thực tế, khoa Mỹ thuật ứng dụng đang cùng nhà trường thực hiện tốt vai trò cung cấp nguồn nhân lực, nhân tài cho xã hội, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Một số gương mặt sinh viên của khoa từng đạt giải thưởng mỹ thuật khu vực, giải thưởng mỹ thuật toàn quốc, giải thưởng quốc tế như Ngô Thái Uyên, Lê Tuấn Kiệt, Mai Thu Ngân…

- Là người thường quan tâm về đào tạo mỹ thuật và khuynh hướng mỹ quan đô thị, ông có nhận xét gì về các vấn đề này khi mà TP chúng ta đang bị phê phán xây dựng ngổn ngang?

Thực tế sau thời kỳ Việt Nam mở cửa, nhiều trường đào tạo nghề được mở ra, chương trình đào tạo”mềm hóa” để kịp thời đáp ứng nhu cầu xã hội nhưng vẫn còn không ít điều bất cập về giáo trình, phương tiện, phương pháp đào tạo. Nhìn bao quát hơn, tôi cho rằng có quá nhiều nơi mở trường, mở lớp đào tạo thiết kế mỹ thuật về đồ họa, thời trang, trang trí nội thất, đào tạo designer liên kết với cơ sở đào tạo của nước ngoài v.v…

Nhưng thực tế, vẫn chưa ai dạy sâu và đi hẳn về chuyên ngành quảng cáo. Tính thương mại hiện nay chi phối nghệ thuật khá nhiều! Về tính thẩm mỹ đô thị phải được quan tâm sâu sát hơn trong giải pháp quy hoạch, thiết kế, quản lý đô thị… Tôi nghĩ điều bất cập này ai cũng dễ dàng nhận thấy, khi nó đã và đang xảy ra trong thực tế cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Đôi khi nó còn rối loạn do thông tin quảng cáo trong môi trường đô thị, quảng cáo trên đường phố, quảng cáo trên truyền hình, trong các chương trình ca nhạc…

- Ông có cho rằng, nghệ sĩ trẻ bây giờ thường thích gây “sốc” khi chọn ngôn ngữ nghệ thuật mới?

Họa sĩ Uyên Huy: Không phải hậu hiện đại là gây “sốc” ảnh 2

Tác phẩm “Ấn tượng Nha Trang” của họa sĩ Uyên Huy.

Trong thực tế, ngôn ngữ nghệ thuật mới chỉ để trình bày ý tưởng, thể hiện sự sáng tạo, thể hiện tư tưởng như Nghệ thuật sắp đặt (Installation), Nghệ thuật trình diễn (Performance Arts), Nghệ thuật thân thể (Body Arts). Trong số các tác giả trẻ này có người cũng chứng tỏ được sự tìm tòi, thể nghiệm đạt hiệu quả về thẩm mỹ lẫn nội dung. Tuy nhiên, khuynh hướng này vốn không được giảng dạy, phân tích, nên cũng có một số tác giả làm việc thiếu đầu tư, thiếu động não, thiếu bản lĩnh, gây hình thức thu hút bên ngoài đối với của công chúng.

Ở nhà trường, chương trình lý luận mỹ thuật lâu nay chỉ cho phép dạy đến chủ nghĩa ấn tượng. Trong khi đó các khuynh hướng nghệ thuật hiện đại, hậu hiện đại... đã phát triển. Thật ra chúng ta không ca ngợi các khuynh hướng mới này, nhưng cũng không thể vội vàng cho rằng hễ sáng tác theo khuynh hướng hiện đại hay hậu hiện đại là lai căng, mất gốc, bị phương Tây hóa. Vấn đề là, chúng ta có biết tùy theo tình huống mà sử dụng ngôn ngữ đó để diễn đạt những chủ đề, đề tài thích hợp của chính mình. Hơn nữa, mỗi dân tộc đều có “khẩu vị” của riêng mình.

Tôi cho rằng cần đòi hỏi sự nghiên cứu thấu đáo của nghệ sĩ trẻ về loại ngôn ngữ này, cũng như ý thức về trách nhiệm công dân, trách nhiệm đối với xã hội của người sáng tác. Nên chăng họ nên chọn biện pháp phản biện, phải thể nghiệm trước để kiểm tra hậu quả thông tin, tránh sự ngộ nhận về nội dung, hời hợt về hình thức. Theo quy luật hễ cái gì không hợp sẽ dần dần bị đào thải. Không phải hiện đại hoặc hậu hiện đại là gây “sốc”!

- Vừa có bề dày kinh nghiệm, phong phú trong thực tế, đạt nhiều giải thưởng cao trong lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng, một mặt, ông lại là họa sĩ từng bộc lộ nhiều “cung điệu màu sắc” qua cuộc triển lãm gần đây nhất - Một thoáng vĩ cầm, hai cách thể hiện này có gì trái ngược?

Tôi nghĩ không hề có gì trái ngược mà càng bổ sung. Có điều, nếu ở mỹ thuật ứng dụng đòi hỏi bên cạnh cái đẹp và tính công năng thì tính truyền thông phải rõ ràng; còn ở hội họa tạo hình, nội hàm diễn tả tinh tế hơn, không cần bộc lộ tính truyền thông rõ nét. Tôi vừa giảng dạy, nghiên cứu, vừa kiếm sống từ vận dụng mỹ thuật ứng dụng, nên không bị kinh tế chi phối khi sáng tác hội họa.

Tôi cho rằng kiểu “ba trong một” mà mình có được là điều may mắn. Nó xuất phát từ quá trình được đào tạo bài bản về đồ họa ứng dụng và cả hội họa thời còn học sinh, sinh viên. Thực tâm mà nói: luôn yêu nghề, sống cởi mở, có tinh thần trách nhiệm cao và làm việc có kế hoạch là những nguyên tắc sống đã giúp tôi hài hòa được các khía cạnh nghề nghiệp, luôn tìm thấy sự sáng tạo thú vị.

- Xin cảm ơn ông.

Kim Ửng

Tin cùng chuyên mục