Hợp tác quốc tế để phát triển bền vững và đảm bảo an ninh năng lượng đã và đang là xu thế tất yếu nhiều nước trên thế giới. Tại nước ta, việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực năng lượng được xem là những viên gạch làm nền tảng vững chắc về an ninh năng lượng. Đó cũng là những bước đi trên con đường hội nhập và phát triển của Việt Nam suốt hơn 30 năm qua.
Khi cầu đã đi xa hơn cung
Nhu cầu về năng lượng của Việt Nam ngày càng tăng. Năm 2000, cường độ năng lượng là 412kgOE/1.000 USD; GDP đầu người 401 USD; tiêu thụ năng lượng đầu người 154kgTOE/năm và tiêu thụ điện năng đầu người là 288kWh/năm. Tuy nhiên, đến năm 2005, cường độ năng lượng đã tăng lên 500kgOE/1.000 USD; GDP đầu người 645 USD; tiêu thụ năng lượng đầu người 250 kgOE/năm và tiêu thụ điện năng đầu người là 540kWh/năm. |
Lý giải cho xu thế trên, theo ông Nguyễn Đình Hiệp, Vụ phó Vụ Khoa học Công nghệ Bộ Công Thương, đó là do nhu cầu sử dụng năng lượng hiện nay và trong thời gian tới đã vượt quá xa so với khả năng cung ứng năng lượng, đặc biệt là nguồn năng lượng hóa thạch.
Trên thực tế, việc giá năng lượng liên tục lập kỷ lục về mức giá mới trong thời gian từ năm 2006 đến nay cho thấy nhu cầu sử dụng năng lượng ngày càng trở nên bức thiết và nguồn cung ngày càng khan hiếm. ThS Trần Mạnh Hùng, Viện Năng lượng Việt Nam đã minh chứng, chỉ tính tại nước ta, đối chiếu các chỉ số sử dụng năng lượng giữa năm 2000 và 2005 sẽ thấy nhu cầu sử dụng năng lượng năm 2005 đã tăng gần gấp đôi năm 2000.
Nhu cầu này được dự báo sẽ tăng cao vào năm 2010, khoảng 47 – 50 tỷ tấn dầu quy đổi. Trong đó, ngành gia dụng có mức tiêu thụ năng lượng nhiều nhất, gần 19 tỷ tấn dầu quy đổi; kế đến là công nghiệp gần 16 tỷ tấn dầu quy đổi… Thực tế nhu cầu sử dụng đó đã và đang tạo ra một thách thức cho nguồn năng lượng hóa thạch và là sức ép lớn cho nước ta trong vấn đề đảm bảo an ninh năng lượng.
Điều đáng nói là tình trạng sử dụng năng lượng chưa hiệu quả đang diễn ra đồng đều ở khắp các ngành công nghiệp. Ông Hiệp cho biết, Bộ Công thương đã tiến hành khảo sát và nhận thấy tình hình sử dụng năng lượng nước ta còn rất lãng phí. Điều này thể hiện qua khả năng tiết kiệm năng lượng của từng ngành. Cụ thể đối với ngành công nghiệp xi măng, nông nghiệp có thể tiết kiệm 50% mức tiêu hao năng lượng hiện tại nếu ứng dụng giải pháp tiết kiệm năng lượng hoặc đổi mới công nghệ sản xuất; kế đến công nghiệp gốm sứ 35%; công nghiệp dệt may 30%; tòa nhà thương mại 25%; chế biến thực phẩm và công nghiệp thép 20%; cuối cùng là cấp thoát nước 15%.
Những bước đi hợp tác quốc tế
Nhà máy Thủy điện Đại Ninh (Bình Thuận) được xây dựng từ nguồn vốn ODA, cung ứng thêm nguồn điện cho lưới điện quốc gia. Ảnh: Thành Tâm
Giải pháp khả thi nhằm hạn chế việc thiếu hụt năng lượng là tăng cường hợp tác quốc tế. Trên thực tế, việc hợp tác với nhiều nước trên các lĩnh vực phát triển năng lượng mới, sử dụng hiệu quả năng lượng hóa thạch của nước ta trong thời gian qua đã và đang gặt hái nhiều thành quả.
Gần đây nhất, Bộ Công thương phối hợp với Quỹ Môi trường toàn cầu thực hiện Chương trình thương mại thí điểm về tiết kiệm điện. Mục tiêu chương trình nhằm giảm 120MW nhu cầu phụ tải giờ cao điểm bằng cách lắp đặt 5.600 điện kế TOU cho khoảng 4.000 khách hàng lớn và vừa; điều khiển trực tiếp để cắt nhu cầu của khoảng 2.000 phụ tải tiêu thụ cuối cùng; thực nghiệm các mô hình và cơ chế kinh doanh phù hợp để làm xúc tác cho thị trường tiết kiệm năng lượng. Dự án khác hợp tác với Chương trình phát triển Liên hiệp quốc là “Nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ”.
Dự án này nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc các ngành sản xuất gạch, gốm sứ, dệt, giấy và bột giấy, chế biến thực phẩm giảm thiểu năng lượng sử dụng. Các doanh nghiệp sẽ được vay vốn với lãi suất ưu đãi; hỗ trợ chuyển giao công nghệ, ứng dụng các giải pháp TKNL để giảm chi phí sản xuất xuống 10% - 15%. Hiện đã có 250 doanh nghiệp được thực hiện kiểm toán năng lượng và 10 doanh nghiệp hỗ trợ vay vốn đổi mới công nghệ…
Không dừng lại đó, việc dồn sức cho phát triển nguồn năng lượng mới cũng được xem là chiến lược đảm bảo năng lượng cho tương lai. Do đó, nhiều dự án điện mặt trời (ĐMT) đã và đang được gấp rút thực hiện với sự hỗ trợ từ nhiều nước trên thế giới. Cụ thể như dự án “Điện mặt trời nối lưới” với tổng công suất 1.100WKp do Tây Ban Nha hỗ trợ nhằm điện khí hóa nông thôn; dự án “Nguồn ĐMT cho vùng dân tộc miền múi” do Ủy ban Dân tộc miền núi và Phần Lan thực hiện. Theo đó, lắp đặt 300 trung tâm sinh hoạt cộng đồng ĐMT ở khu vực miền núi bao gồm nhà văn hóa, trạm y tế, trường học và các nhà rông… nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của các đồng bào dân tộc thiểu số. Ông Trịnh Quang Dũng, Phân viện Vật lý Việt Nam cho biết, hiện đã có hơn 3.000 hộ dân vùng sâu, vùng xa đã được điện khí hóa bằng hệ ĐMT gia đình; 8.500 hộ sử dụng ĐMT qua các trạm sạc ắc quy và hàng trăm làng, nhà văn hóa, trạm thu vệ tinh, viễn thông ĐMT ra đời…
Nhìn lại quá trình phát triển năng lượng hơn 30 năm (ngoài những công trình đã đi vào cuộc sống của đất nước như Thủy điện Hòa Bình, Thủy điện Trị An, Thủy điện Sơn La…), qua cho thấy việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế thông qua các dự án năng lượng hiện tại và trong thời gian tới là nền tảng để phát triển kinh tế bền vững, một nền kinh tế mà ở đó vấn đề an ninh năng lượng luôn được đảm bảo.
Những dự án năng lượng mang tính quốc tế tiêu biểu Dự án Truyền tải điện miền Bắc và Truyền tải điện miền Bắc mở rộng ; Nhiệt điện Mông Dương; Thủy điện Sông Bung 4; dự án Truyền tải điện và các dự án nhiệt điện than ở miền Trung và miền Nam; Dự án Nhà máy điện Nghi Sơn và Nhà máy điện Ô Môn cùng đường dây đồng bộ ; dự án đấu nối lưới điện giữa Việt Nam và Trung Quốc qua đường dây 500 kV; xúc tiến đầu tư xây dựng các nhà máy Thủy điện Sê San 1 (90 MW); Hạ Sê San 2 (420 MW); dự án Thủy điện Trung Sơn (220 MW)… |
Ái Vân