Tháng 8-1962, tại khu rừng Bời Lời, Tạp chí Văn nghệ Quân Giải phóng số đầu tiên chào đời, kế tục Văn nghệ Quân đội đi sâu vào chiến trường, phát hành đến bộ đội Miền, các cơ quan Bộ Tư lệnh và gửi tặng Hà Nội. Bộ đội đón mừng món ăn tinh thần, vừa có “diễn đàn”, gửi thư hoan hô và lai rai gửi bài.
Nhưng vui nhất với anh em chúng tôi là nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn từ Văn nghệ Quân đội đã về, đó là vào mùa đông năm 1962. Chúng tôi chạy ra rẫy bẻ bắp, đến quản lý chia gói trà con cọp, gói thuốc Ara “con két”. Buổi hạnh ngộ làm trẻ ra những gương mặt. Niềm lạc quan ở rừng như có tiếng hát.
Nhà văn Nguyễn Thi những ngày tập kết ở Cao Lãnh (1954).
Nguyễn Ngọc Tấn trong bộ bà ba đen bạc phếch rộng thùng thình như một người đi xa về nhà, vui mừng nồng nhiệt cùng đồng đội. Cam go vượt Trường Sơn gian lao, khuôn mặt anh nắng sạm, góc cạnh, song tiếng cười thì tròn đầy và ánh nhìn đôn hậu đầm ấm. Chúng tôi mến mộ anh từ cuộc kháng chiến chống Pháp với tập thơ Hương đồng nội, giải thưởng Văn nghệ Cửu Long.
Được biết anh tên thật là Nguyễn Hoàng Ca, vừa mới 2 tuổi đã theo mẹ ngồi tù do mẹ Thành Thị Du tham gia phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930. Cha mất sớm, mẹ đi bước nữa, Tấn theo người anh vào Sài Gòn kiếm sống rồi tham gia khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vào du kích Thới Tứ - Hóc Môn, sau theo bộ đội Tiểu đoàn 302 hoạt động chiến trường miền Đông và cả Đông Nam Campuchia. Hiệp định Genève đình chiến, tập kết ra Bắc anh mới gặp lại mẹ. Bấy giờ anh từ Đội văn công Sư đoàn 330, được rút về Văn nghệ Quân đội đi viết và trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Từ đó, Nguyễn Ngọc Tấn đảm đương vai trò “cây cột cái”, dựng mái nhà “tòa soạn”, mang phiên hiệu A.6 gồm 5 anh em: Nguyễn Ngọc Tấn (đặc trách Tổng biên tập, cùng Võ Trần Nhã, Thanh Giang ráp vô lo ra tạp chí Văn nghệ Quân Giải phóng số 2. Tấn viết bài đổi bút danh mới: Nguyễn Thi (tên con trai anh). Từng là bộ đội Tiểu đoàn 302 thời chống Pháp ở rừng miền Đông, Tấn thông thạo từ việc làm tạp chí đến đào hầm, cưa cây, cất nhà... đều làm rất giỏi.
Tạp chí Văn nghệ Quân Giải phóng số 2 lên trang xong, chiến thắng Ấp Bắc nổ ra làm nức lòng người. Tấn đề xuất và phân công anh em viết bài nhanh bổ sung nội dung. Anh động viên: “Làm báo là phải nhảy cao đá lẹ”. Phong trào thi đua Ấp Bắc nhanh chóng lan rộng khắp chiến trường và cả nước. Tấn bồn chồn tâm sự: “Mơ ước của tôi là được sống và chiến đấu cùng đồng bào, chiến sĩ. Nghệ thuật của chúng ta cũng bắt nguồn từ đó”. Rồi anh động viên tôi “thủ trại”, anh cùng Võ Trần Nhã đi chiến trường Ấp Bắc - Mỹ Tho, vượt lộ 4 sang Long Trung – Cai Lậy.
Sau chuyến đi thực tế về, Tấn ghi chép các nguyên mẫu với nhan đề: Cô gái đất Ba Dừa, Sen trong đồng và khởi thảo 3 chương tiểu thuyết chưa kịp đặt tên. Sau khi gửi ra Hà Nội, tác phẩm được công bố mang tên: Ở xã Trung Nghĩa. Tuy mới 3 chương nhưng dư luận đánh giá rất cao.
Dù ít người, chúng tôi lần lượt thay phiên nhau đi chiến trường, ngoài ra còn tải gạo, cưa củi, cuốc rẫy, chống càn, dời cứ, đào hầm, cất nhà... Bởi thế nên phần sáng tác “dài hơi” chúng tôi phải tranh thủ viết ban đêm dưới ánh đèn hạt đậu bỏ trong ống tre và thường là dở dang; tiểu thuyết Ở xã Trung Nghĩa của Tấn cũng trong tình trạng này. Bức xúc hơn nữa là diễn biến sôi động chiến trường luôn kêu gọi.
Phong trào đồng khởi Bến Tre lan rộng toàn miền Nam, đưa cuộc chiến tranh nhân dân lên một đỉnh cao mới trong lịch sử. Dù đã có chuyến đi Mỹ Tho, Tấn vẫn trăn trở, bồn chồn. Đầu năm 1964, Nguyễn Ngọc Tấn dẫn đầu đoàn đi Bến Tre gồm Thanh Giang, Trần Nam Hương và Huỳnh Công Thu - họa sĩ tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội.
Xuống sâu đồng bằng, bót đồn dày đặc, trên bờ lính phục, dưới sông tàu tuần. Họa sĩ Huỳnh Công Thu trúng hỏa tiễn trực thăng, hy sinh nằm lại trên chiến trường Cai Lậy – Mỹ Tho!...
Là nhà văn có tầm nhìn chiến lược, nắm bắt vấn đề cốt lõi cho ý đồ tư tưởng sáng tác của mình; kết hợp với tư liệu chuyến đi Mỹ Tho, Tấn viết ba chương đầu tiểu thuyết Ở xã Trung Nghĩa..., cắt nghĩa đồng khởi Bến Tre mang tính khái quát cho toàn miền Nam...
Nguyễn Ngọc Tấn rời Thành Thới đến Minh Đức gặp tôi. Có một đêm chúng tôi ngủ chung giường trong nhà dân sát bờ sông Hàm Luông. Ở rừng ngủ võng, chưa hề ngủ chung. Ở đây, trong vùng địch, chuyện ngủ chung là dịp cho hai anh em tâm sự thâu đêm. Đêm thật yên tĩnh. Nằm lắng nghe tiếng mõ khắc 6 (nghe xa), mõ khắc 3 (nghe gần), chúng tôi biết luồng tàu địch đi tới đâu, thầm cảm nghe yên lòng khi định vị mình đang sống giữa lòng cuộc chiến tranh nhân dân kỳ vĩ! Tấn nói:
- Quý biết bao cảm xúc hiện thực. Nếu như mình không ngủ ở một cái ấp cheo leo bên bờ sông mà tàu giặc không lúc nào vắng bóng thì làm sao có xúc cảm để mà viết. Chỉ có cảm xúc chân thật mới viết nên những dòng chân thật làm rung động lòng người...
Ghi nhận tư liệu từ Bến Tre, chúng tôi đang viết dở dang phải xếp lại, tham gia Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn miền lần thứ nhất, viết truyện anh hùng. Nguyễn Ngọc Tấn viết về Nguyễn Thị Út: Người mẹ cầm súng. Võ Trần Nhã viết về Nguyễn Minh Tua: Lá cờ Hê-rôn. Thanh Giang viết về Hồ Văn Bé: Đánh trong lòng địch... Lê Anh Xuân viết truyện anh hùng Nguyễn Văn Tư: Giữ đất...
Chúng tôi lại thay nhau đi chiến trường. Tấn đi Củ Chi, viết thiên ký sự: Những sự tích ở đất thép. Thanh Giang theo các chiến dịch: Bình Giã, Bàu Bàng, Nguyễn Huệ... làm thơ, viết ký phục vụ kịp thời. Kế tiếp, A.6 tập trung dự Đại hội anh hùng toàn miền lần thứ hai. Tấn viết truyện anh hùng Nguyễn Thị Hạnh: Ước mơ của đất.
Những ngày đầu đợt tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân - 1968, Nguyễn Ngọc Tấn viết dở dang truyện anh hùng Nguyễn Thị Hạnh, thủ trưởng không cho anh đi. Nhưng hồn văn không yên, viết xong phần một Ước mơ của đất, anh xếp lại, đi đợt hai, hướng Tây-Nam Sài Gòn. Anh theo Đoàn 10, chiến đấu trên đường Minh Phụng suốt 5 ngày đêm. Khi lùi ra đến ngã ba Tham Lương, chống địch truy kích, anh hy sinh!
Tháng 5-1968, được tin dữ từ điện báo: Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi hy sinh! Trong nỗi đau bàng hoàng, Nguyễn Trọng Oánh và tôi soạn trong hai thùng thiếc tư liệu của Tấn, chọn hàng chục tập ghi chép chữ lít nhít, bản thảo 3 chương tiểu thuyết, truyện anh hùng Ước mơ của đất (phần một), 2 bài ký: Cô gái đất Ba Dừa và Sen trong đồng... đóng thành hai gói to, chuyển ra Hà Nội cho Văn nghệ Quân đội. (Đó là phần lớn nội dung cho nhà văn Ngô Thảo làm Toàn tập Nguyễn Ngọc Tấn gồm 4 cuốn, 2.600 trang, Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1996).
Nguyễn Ngọc Tấn, nhà văn gắn bó nhiều kỷ niệm với A.6 từ những ngày đầu làm tạp chí; những tháng ngày đi chiến trường cùng sống chết. Đậm đà tình nghĩa như chuyến về Mỹ Tho, lo cưới vợ cho Võ Trần Nhã, chuyến về Bến Tre, tác thành hôn nhân cho Thanh Giang. Cuộc đời anh tình duyên éo le, một lần ngang trái, hai lần chia ly, nên hết lòng chăm lo tình duyên đồng đội...
Nguyễn Ngọc Tấn, cần hơi thở chiến trường, theo sát chiến sĩ vào tận Sài Gòn... Trong đội hình chiến đấu dài ngày trên đường Minh Phụng, giữa hồi đạn bom rền cả Sài Gòn, cháy bỏng lên khát vọng của người cha! Cơn hạnh ngộ cùng con gái Trang Thu của anh đã gần kề. Cái khoảng cách hàng ngàn dặm, anh đã trả giá tâm lực, nhớ nhung, cả mồ hôi và máu để rút ngắn dần, cho đến chỉ còn vài dặm cuối. Ôi! Gần sao giữa Minh Phụng và Lê Văn Duyệt, nơi cháu Trang Thu đang sống với ông bà ngoại. Thế mà... ngàn - thu - biệt - ly!...
Anh lưu lại lòng người một nhân cách cao đẹp, cùng những tác phẩm văn học đặc sắc - Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên; lưu lại tên đường Nguyễn Thi ở quận 5- TP Hồ Chí Minh... còn hài cốt nằm nơi nao? Mẹ Thành Thị Du hồi sinh tiền từ Nam Định vượt hai ngàn cây số vào TP Hồ Chí Minh viếng mồ con, chỉ thầm lặng ôm bó hoa huệ đỏ đi bộ dài theo đường Minh Phụng, nơi tưởng chừng còn vương hơi thở con mình chiến đấu, rồi đi bộ tiếp con đường Nguyễn Thi - tên con trai yêu quý của mình!...
Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi, nhà văn tài hoa định hình nhân cách: cuộc sống có trước, sách vở có sau; tự phát trưởng thành; từ trong huyết quản phát sinh cảm xúc nghệ sĩ. Anh khái quát đời mình: Sinh Bắc – Lớn Nam. Thế nên, khi tập kết ra Bắc quê hương, anh vẫn canh cánh nỗi lòng: Đêm Nam – Ngày Bắc. Ngày bên vợ trẻ con thơ; đêm da diết nhớ thương đồng bào miền Nam còn trong vòng tay giặc thù tàn sát, trong đó có con gái đầu lòng chưa nhận mặt mà hằng chiêm bao vọng tưởng. Cho nên anh hăm hở trở về chiến trường xưa từ rất sớm... Và anh viết những câu thơ da diết từ gan ruột:
Những mối tình bằng nước mắt
Có bao giờ phai nhạt em ơi!
Hái tất cả mùa xuân trên mặt đất
Anh làm thơ yêu tặng một con người.
Lòng tôi hằng nhớ thời đa đoan viết vội, chiến trường sôi động luôn kêu gọi... Nguyễn Ngọc Tấn với câu tự thán: “Tình hình này ngồi viết tiểu thuyết nó chướng lắm!”. Giờ im tiếng súng, đôi mắt trữ tình nhân hậu anh nhìn đồng nghiệp đang sống và viết hẳn chúc mừng: “Được viết tiểu thuyết trong khung cảnh đất nước hòa bình hạnh phúc lắm thay!”.
TPHCM 1-5-2008
Thanh Giang