Ký ức Mậu Thân

LTS:
Ký ức Mậu Thân

LTS: Nhà văn Văn Lê là người từng tham gia chiến dịch Mậu Thân 1968. Nhân kỷ niệm 40 năm Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, trang VHVN báo SGGP xin giới thiệu một đoạn trích trong truyện ký “Ký ức Mậu Thân” của nhà văn Văn Lê vừa hoàn thành.

Ký ức Mậu Thân ảnh 1

Luyện tập vào đợt 2 Mậu Thân 1968.
Ảnh: LÂM TẤN TÀI

Vào Tết Mậu Thân, chính xác là ngày 5 tháng 2 năm 1968, tiểu đoàn tôi bị hai tiểu đoàn bộ binh Mỹ và một tiểu đoàn thuộc lực lượng bộ binh Sài Gòn mới được điều tới, bao vây chặt trong một ngôi làng thuộc xã Vĩnh Lộc, huyện Bình Tân, cách trung tâm Sài Gòn chừng mười cây số đường chim bay. Sau khi tấn công vào sân bay Tân Sơn Nhất vào rạng ngày 31 tháng 1 không thành công, tiểu đoàn tôi bị thương vong nặng, được lệnh rút về đây củng cố, vừa đánh phản kích vừa chờ lệnh của trên.

Rạng sáng ngày hôm ấy, khi ánh nắng mặt trời gay gắt của mùa xuân chưa kịp lóe lên, thì máy bay trinh sát xuất hiện. Sau vài vòng quần đảo, sà xuống thật thấp, quan sát, nó bay vọt lên cao, rồi bắn chỉ điểm. Không đầy một phút sau, một bầy năm chiếc máy bay trực thăng chiến đấu của địch ào tới, bắn xối xả vào tuyến phòng thủ của tiểu đoàn. Sau gần nửa giờ bắn phá, bọn bộ binh Mỹ, được xe bọc thép yểm trợ, chia làm ba hướng đánh vào trận địa. Chúng băng ngang qua những con đường đất đỏ, vượt qua tổ tiền tiêu, xông thẳng vào tuyến phòng ngự của đại đội tôi.

Mỗi lần nhớ lại cái ngày khốc liệt ấy, tôi dường như vẫn còn nghe thấy những tiếng nổ loạn xạ của hàng chục khẩu pháo không giật đặt trên các xe bọc thép Mỹ, tiếng “chóc, oành” của súng phóng lựu, súng M16 bắn nhanh và tiếng nổ đục trầm của lựu đạn phá hầm. Trong khói bom trộn lẫn bụi đất, tôi vẫn còn nghe văng vẳng ở đâu đó tiếng kêu hoảng loạn “Thụy, cứu tao!”, “Cứu tao!” của tiểu đội trưởng Bùi Minh Thái.

Tôi dường như vẫn còn ngửi thấy mùi diêm sinh, mùi máu tanh lạnh, mùi thuốc đạn bay ra từ nòng súng nóng bỏng. Một lần nữa, tôi như nhìn thấy tiểu đội phó Lê Phú Văn, nhà thơ, người bạn thân nhất của tôi biến mất khỏi mặt đất bởi một trái đạn 106,7mm nổ gần, khi anh đang tìm cách điều chỉnh lại đội hình, chống trả.

Ba Ron, trung đội trưởng, ra hiệu cho chúng tôi bắn vào chiếc xe bọc thép đang lấy hết tốc độ, xông tới công sự của một người lính vừa bị trúng đạn, trong khi anh phải chúi đầu vào góc hầm, khạc từ trong miệng ra những nhớt rãi đỏ máu cùng đất cát đen nhẻm. Chúng tôi đã trút về phía quân thù tất cả những gì mình có: cối 61, súng phóng hỏa tiễn, lựu đạn và tiểu liên AK 47.

Tôi đã nhìn thấy một chiếc xe bọc thép bị trúng đạn nằm ghếch đầu lên bờ ruộng. Từ trong thùng xe, một tên lính Mỹ bị thương cố sức leo lên được nóc xe thì bị trúng đạn, lăn từ từ xuống đất. Tuy vậy, chúng tôi cũng không sao dập tắt được hỏa lực của địch.

Trong một tình thế không thể nào tiến thoái được, đại đội trưởng của tôi, một cán bộ trẻ mới ra trận lần đầu, chưa có kinh nghiệm chỉ huy, thấy bộ đội thương vong nhiều, hoảng sợ tốc hầm, bỏ chạy. Điều trớ trêu là anh lại chạy ngay vào đơn vị Thanh niên xung phong do chị Tư Cơ chỉ huy, đi phối thuộc với tiểu đoàn tôi.

“Đứng lại! Làm cán bộ mà bỏ bộ đội, bỏ thương binh, tử sĩ chạy thoát thân à?” - Dưới làn đạn đại liên bắn chéo cánh xẻ từ xe tăng của địch, chị Tư nhảy lên khỏi công sự, túm ngực áo đại đội trưởng, quát lên giận dữ. “Quay lại ngay, nếu không tao bắn!” - Vừa nói, chị vừa dí khẩu súng ngắn vào ngực đại đội trưởng.

Người chỉ huy trẻ sợ hãi, run lẩy bẩy, nhưng cuối cùng, anh cũng quay lại tuyến công sự của mình.

Đêm ấy, chúng tôi được lệnh rút khỏi trận địa. Đại đội tôi được giao nhiệm vụ ở lại chặn địch, bảo vệ cho đơn vị Thanh niên xung phong đưa thương binh, tử sĩ ra ngoài. Trong ánh sáng chao đảo, lạnh ngắt của đèn dù, tôi nhìn thấy chị Tư lom khom, lúc ẩn lúc hiện cùng các nữ chiến sĩ, nhặt nhạnh từng mẩu thi thể của Lê Phú Văn, bạn tôi, bọc vào một tấm ni lông, rồi chôn trong một hố pháo giữa đồng. Việc làm của chị cùng các nữ chiến sĩ gây xúc động lớn với tôi...

Mãi tới gần nửa đêm, việc thu gom, chôn cất tử sĩ mới hoàn tất. Công việc còn lại là nhanh chóng chuyển thương binh, băng qua những cánh ruộng nứt nẻ, hướng về phía Bàu Cò. Thương binh chưa được chuyển đi hết, thì địch phát hiện ra hướng rút lui của chúng tôi. Chúng bắn hỏa châu sáng rực cả bầu trời. Từ hướng Tân Sơn Nhất, ba chiếc trực thăng bật đèn sáng trưng lao tới. Chúng trút đạn xối xả vào đội hình tải thương. Nhiều nữ chiến sĩ Thanh niên xung phong bị trúng đạn, gục ngã giữa cánh đồng, trên vai còn cõng bộ đội.

Ba Ron, trung đội trưởng của tôi, như một người mất trí. Anh lảm nhảm chửi bới những gì không rõ, giữa tiếng súng từ trên máy bay trực thăng nổ toang toác trên đầu. Chúng tôi, bằng khả năng của mình, bắn trả kẻ thù bằng những loạt đạn ngắn. Một chiếc máy bay trực thăng của Mỹ bị trúng đạn, lảo đảo rồi đâm sầm xuống dòng kênh, làm bùng lên một đám cháy dữ dội. Có thể nhờ vậy mà hai chiếc máy bay còn lại không dám sà xuống thấp. Chúng cứ bay tít trên cao, phóng hỏa tiễn tới tấp xuống cánh đồng.

Chúng tôi rút về tới Bàu Cò thì trời rạng sáng. Không thể hành quân trên cánh đồng trống vào ban ngày, chúng tôi buộc lòng phải trụ lại dọc theo bờ ruộng lưa thưa vài ba khóm bình bát. Còn thương binh và Thanh niên xung phong thì được sơ tán lui vào trong đầm lầy đầy cỏ dại. Trong lúc chúng tôi đang khoét đất làm công sự thì địch đổ quân chặn đầu. Rõ ràng là chúng đã phát hiện ra hướng rút quân của chúng tôi.

Từ trong khoang máy bay trực thăng, bọn bộ binh Mỹ vai mang ba lô, vũ khí trong tay, ào ào nhảy xuống đất. Chúng nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu dọc theo bờ ruộng, dẫn tới một con đường đã lâu không còn sử dụng. Nhìn máy bay hăm hở đổ quân, những thằng lính đói khát, mệt mỏi chúng tôi trở nên hoang mang, căng thẳng. Đây là một thời điểm quá ư ngặt nghèo đối với chúng tôi. Đạn gần hết. Lực lượng mỏng. Đánh hay không đánh?

“Nếu chúng phát hiện ra mình, thì đánh...” - Chính trị viên đại đội nói một cách khẽ khàng.

“Ngược lại thì sao?” - Ba Ron lạnh lùng hỏi.

“Còn hỏi nữa? Ém cho kỹ”.

Dĩ nhiên rồi! Cực chẳng đã mới phải đọ súng trong trường hợp này. Nằm chơ vơ trên cánh đồng lầy lội, chỉ cần sơ sẩy để nổ một phát súng, bọn Mỹ sẽ chẳng ngần ngại gì mà không “làm cỏ” cả vùng. Nghĩ thế, tôi cứ nằm thụp người trong bùn đất tanh nồng, miệng lầm rầm cầu mong đừng có chuyện gì xảy ra nữa.

Sau khi đổ quân, bọn Mỹ không tổ chức lùng sục. Chúng cụm lại thành từng tốp từ ba đến năm người, bám lấy bờ mương.

Tình hình không còn căng thẳng, tôi mò đến khu vực Thanh niên xung phong, thăm tiểu đội trưởng Bùi Minh Thái, tiện thể cảm ơn chị đã lo lắng, chôn cất Lê Phú Văn, bạn tôi. Tại đây, tôi gặp chị Tư và nhanh chóng chiếm được cảm tình của chị. Chị nhận tôi là em kết nghĩa. Trong một lúc bốc đồng nhưng thật lòng, tôi đã nói với chị là nếu sống sót qua chiến tranh, người đầu tiên tôi tìm đến sẽ là chị. Chị Tư cười rổn rảng: “Thiệt nghe mậy!”.

Khuya hôm ấy, chúng tôi rút khỏi chiến trường về rừng Nhum củng cố. Nếu tôi nhớ không lầm thì lúc đó, chị Tư mới khoảng hai mươi ba, hai mươi bốn tuổi, khỏe mạnh, tháo vát và rất kiên quyết.

Thương binh thì nhiều, Thanh niên xung phong thì ít, nên một mình chị phải chịu hai đầu cáng. Nằm trên võng, tiểu đội trưởng Bùi Minh Thái áy náy vô cùng. Anh năn nỉ với chị là để cho anh túc tắc đi bộ, nhưng chị kiên quyết khước từ. Chị bảo: “Mày bị thương vào bụng, không thể tự đi được. Hãy cứ nằm im cho chị khiêng”.

Trong thâm tâm tôi, chị Tư không chỉ như một người chị gái mà còn là một người anh hùng. Không một ai trong trung đoàn tôi không biết tên chị. Mọi người thường kể cho nhau nghe chuyện chị đã chỉ huy đơn vị chống trả bọn biệt kích Mỹ như thế nào. Rồi chuyện chị băng qua bãi mìn cõng thương binh ra sao. Nói chung, những câu chuyện của người lính đều nói về sự tận tình, dũng cảm của chị. Mỗi khi nghe tin tiểu đoàn chị đi phối thuộc với đơn vị nào là đơn vị ấy reo lên sung sướng.

Sau khi nhận đủ quân số, trang bị, tiểu đoàn tôi lại “xuống đường” đánh vào Sài Gòn một lần nữa…

Văn Lê

Tin cùng chuyên mục