Miền Trung - Vệt xanh trên cát

Bài 1: Ngọc xanh Rú Chá
 
 
Biển miền Trung dọc dài chang chang nắng, cát trắng mênh mông. Nhiều địa phương đã lật mặt nhiều khu rừng ven biển khai thác titan để lại di hại sinh thái khó khắc phục. Dẫu ít ỏi, nhưng vẫn còn đó hai điểm sáng xanh giữ rừng trên cát. Đó là rừng Rú Chá ở Thừa Thiên - Huế và những rặng trâm bầu ở thôn Thanh Bình tỉnh Quảng Bình.

Bằng mô hình “trồng rừng ven biển kết hợp với nuôi trồng thủy hải sản”, 28 xã ven biển và đầm phá Thừa Thiên - Huế đã tìm ra được hướng phát triển rừng phòng hộ. Trong đó, rừng ngập mặn Rú Chá được xem như một viên ngọc về bảo tồn đa dạng sinh học, du lịch sinh thái giữa phá Tam Giang.

  • Uốn con sóng dữ

Trước đây nói đến Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế mọi người nghĩ ngay đến những rú cát hoang hóa mà cỏ không mọc nổi vào mùa hè. Nhưng giờ, rú cát mênh mông trắng xóa đã mướt xanh rừng phòng hộ xen kẽ với những trang trại chăn nuôi, trồng trọt hiệu quả. Mới đây nhất, người dân còn phát hiện khỉ, rùa và cả thỏ trở lại sinh sống tự nhiên ở những khoảnh rừng nơi đây.

Không gian thoáng đãng và trong lành ở rừng ngập mặn Rú Chá là “viên ngọc” trong tour du lịch sinh thái Tam Giang (Thừa Thiên - Huế).

Ông Hồ Quyền, Chủ tịch UBND xã Điền Môn cho biết, lúc trước nghe trồng rừng phòng hộ ven biển ai cũng ngán khi bão chồng bão năm 2000 đã đánh sập cả những công trình xây dựng kiên cố. Đặc biệt, tỷ lệ cây con của rừng ven biển mới trồng bị chết hoặc đổ ngã khá cao. Ngoài nguyên nhân gió to, hà luồng đục thân, còn có cả yếu tố con người. Một số ngư dân khi soi tôm cá, đào bắt ngao ốc đã làm ngã đổ cây; một số người còn chặt cây rừng nguyên sinh để làm vật liệu phục vụ cho sinh hoạt gia đình…

Nhưng dự án trồng rừng 661 đang đưa lại màu xanh hy vọng trên cát. Dự án hỗ trợ các loại cây giống như xương rồng, tràm, chổi, mua, sim, chạc chìu, dứa dại... Chính quyền địa phương kết hợp mô hình gắn kết rừng ven biển với việc phát triển kinh tế dưới tán bằng việc phân đất rừng cho người dân tự chăm sóc quản lý. Từ đó, người dân trong xã đã biết uốn con sóng dữ để trồng 180ha rừng ven biển và gần 280ha rừng trồng phân tán.

Đang ngồi đan lờ bắt tôm cá, ông Mai Khanh vui vẻ bắt chuyện và dẫn chúng tôi đi xem mô hình ao nuôi kết hợp rừng trồng trên diện tích hơn 1ha của nhà ông. Ông kể: “Khi phong trào nuôi tôm bùng phát là lúc tôi cùng bao người triệt hạ thẳng tay rừng phòng hộ ven biển để đào ao nuôi tôm. Nhưng rồi vài vụ sau, nuôi tôm thì mắc bệnh đốm trắng, nuôi cá gặp rận nước... Giờ đây, hàng dương che bóng mát cho một phần hồ nuôi nên khi trời nóng, nhiệt độ nước không quá cao, lượng nước bốc hơi cũng ít hơn, nhờ đó độ mặn không tăng nhiều, không gây sốc cho tôm. Cây cũng cung cấp mùn bã làm thức ăn cho tôm, cá trong ao. Năm qua, hồ tôm nhà tôi trúng thu về hàng trăm triệu đồng”.

Thực hiện dự án trồng rừng 661, các địa phương trong vùng đã trồng và chăm sóc được gần 4.600ha rừng, trong đó vùng cát ven biển gần 1.900ha và vùng cát nội đồng gần 2.740ha; trồng bảo vệ đê cát ven biển và ven phá dài hơn 5km... Qua đó, nâng độ che phủ rừng của vùng dự án tăng lên 30%. Đặc biệt, các dự án trồng rừng đã giải quyết công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho 2.230 hộ gia đình và hơn 10.000 lao động địa phương nên nhận thức và trách nhiệm về bảo vệ và phát triển rừng của địa phương cũng như người dân được nâng lên rõ rệt.

Người dân bảo vệ rừng kết hợp nuôi thủy sản.

  • Rú Chá chở che

Từ cảng Thuận An cách trung tâm thành phố Huế khoảng 15km, chúng tôi di chuyển bằng ghe qua cửa biển với chiều dài khoảng 500m, Rú Chá (rừng chá) nằm cuối thôn Thuận Hòa, xã Hương Phong, huyện Hương Trà hiện ra như một bức tranh sơn thủy. Trong không gian mát rượi gió biển, hàng cây chá cao 2 - 4m, đường kính trên 50cm với bộ rễ lớn bám chặt vào lòng đất đang được phục hồi và bảo vệ.

Rú Chá có tự bao giờ đến người già nhất trong làng cũng không nhớ nổi. Chỉ biết rằng, đầu năm 1965, Mỹ - ngụy nghi ngờ bộ đội ta nằm vùng trong 2 căn hầm bí mật giữa rừng Rú Chá. Chúng điên cuồng dùng thủy lôi đánh chặn tìm và diệt. Nhưng nhờ rừng cây ở Rú Chá dày, rậm rạp, lại có dân làng Thuận Hòa bí mật đưa cơm nuôi cán bộ cách mạng nên kẻ thù bất lực.

Và từ những lần đưa cơm ấy, ông Nguyễn Ngọc Đáp, một người dân làng Thuận Hòa năm nay 70 tuổi, đã biết từng ngõ ngách trên Rú Chá và quan trọng hơn ông đã tìm ra những bài thuốc và các món ăn độc đáo, duy chỉ có trên ngọn rú này.

Ông kể: “Trải qua bao lần vào ra rú, không hiểu răng hình ảnh con rú nhỏ nằm cạnh phá Tam Giang với ngôi đình nhỏ cứ ám tui mãi... Cái rú ngó ri mà đã hàng trăm năm rồi đó chú, lúc đầu trong rú chỉ lưa thưa một vài cây chá, dân làng Thuận Hòa từ đứa trẻ nhỏ cho đến khi trở thành người hai thứ tóc đều biết ơn hắn cả. Rú như một người cha lớn, luôn chở che, đùm bọc dân làng. Ngoài cây chá, trên rú này có rất nhiều cây đước và nhiều loài sống nước lợ như cá rô phi, tôm đồng rồi những đàn cò thường bay về trú đông. Đặc biệt, thời gian gần đây vào lúc chập tối còn xuất hiện thêm chim cuốc đầu đỏ bay về rú trú ngụ. Riêng cây chá nếu nghiên cứu kỹ cũng có thể áp dụng trong việc điều trị các bệnh liên quan đến kinh nguyệt ở chị em phụ nữ” , ông Đáp chia sẻ.

Đã có một thời vì nghèo khó, người dân sống quanh rừng Rú Chá chặt phá cây làm củi, hay lấy đất làm hồ nuôi tôm. Nhưng từ khi Nhà nước quy vùng bảo vệ, người dân bắt đầu có ý thức bảo vệ và đang phát triển diện tích rừng tại Rú Chá từ 5ha lên 20ha.

Với dự án trồng rừng trên cát, người dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế đã tạo nên khu rừng phòng hộ xanh mướt.

Ông Phan Văn Ưng, Chủ tịch UBND xã Hương Phong cho biết, sau những trận bão kinh hoàng, đặc biệt trận lũ lụt lịch sử năm 1999, người dân địa phương đã thức tỉnh và nhận ra một điều - rừng Rú Chá là lá chắn bảo vệ họ an toàn nhất trong thiên tai bão lũ. Thôn Thuận Hòa đã làm hương ước, quy định nghiêm cấm mọi hành vi phá rừng, ai cũng có trách nhiệm bảo vệ rừng và chung tay trồng rừng, bầu chọn người có kinh nghiệm để quản lý, bảo vệ rừng. Đồng thời, thành lập các đội tự quản để thường xuyên theo dõi rừng...

UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã có văn bản về bảo tồn và phát triển diện tích rừng ven phá Tam Giang, trong đó trọng tâm là diện tích rừng Rú Chá. Mô hình “cộng đồng ứng phó với biến đổi khí hậu” từ bảo vệ rừng Rú Chá đã được nhân rộng ra các địa phương có điều kiện tương tự như xã Hải Dương (Hương Trà), Khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản Cồn Chim (Phú Vang)…

Dự án trồng rừng phòng hộ ven biển, vùng cát là một trong những hợp phần quan trọng của chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng được triển khai tại 28 xã ven biển và đầm phá thuộc các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang và Phú Lộc.

Qua 10 năm thực hiện, dự án đã mang lại hiệu quả nhất định về kinh tế, xã hội và môi trường, trong đó hiệu quả về môi trường sinh thái được nâng lên rõ rệt. Hệ thống đồi cát ở các vùng Ngũ Điền và các vùng bán di động trước đây vốn hoang hóa giờ đã được phủ xanh, tạo điều kiện về cảnh quan để phát triển du lịch ven biển và kinh tế trang trại trên cát.

VĂN THẮNG


 

Bài 2: Trâm bầu bất khuất ba đào

Biết làng mình không thể vững chãi với cát trắng, hàng trăm năm nay, người làng Thanh Bình (Quảng Xuân, Quảng Trạch, Quảng Bình) cần mẫn góp lúa nuôi đội giữ rừng trâm bầu. Làng vì thế mà mạnh mẽ bên bờ biển Đông, cường tráng trước sóng to gió lớn, vững vàng đối đầu với mưa bão liên miên.

Rừng có hàng trăm cây vài người ôm mọc trên cát ở Thanh Bình.

Con số 11

Làng Thanh Bình án ngữ ở biển bãi ngang, mùa gió chướng quần quật mưa bão, cát phủ khắp đầu thôn cuối xóm. Cuộc sống giữa cát với bao khốn khó, người làng vẫn giữ lịch thiệp với thiên nhiên, thuận hòa với trời đất nên mặc dù làng cheo leo bên doi cát nhô ra biển Đông nhưng từ ngày khai khẩn đến nay chưa một lần dân cư lo lắng biển xâm thực. Họ có cả “vị bản thần hộ mệnh” là khu rừng phòng hộ chạy từ đầu thôn đến cuối làng dài hơn 4 cây số, rừng đã thủy chung với số phận dân làng từ tận xa xưa.

Trưởng thôn Đậu Thanh Minh nói: “460 năm trước, những ông tổ khai canh lập làng từ Bắc vào đã thấy rừng trâm bầu sừng sững. Họ chọn thế dựng làng, lưng tựa vào động cát phủ đầy trâm bầu, mặt hướng ra cánh đồng pha cát, thuận lợi cho ruộng làm lúa nước, cũng như trồng khoai, cấy ngô”.

Theo trưởng thôn Minh, sở dĩ làng còn rừng trâm bầu bát ngát xanh tươi là từ khi khẩn hoang đến giờ chưa một ngày người làng ngơi ngớt công việc bảo vệ. Từ xưa, các bậc cao niên truyền đạt, lý trưởng làng cắt đặt đội cai rừng với 11 người, ai bẻ cành, chặt cây bị phạt vạ giữa đình, bắt trồng cây mới, lao động một vụ mùa rồi nộp thóc để sung vào quỹ coi “thần hộ mệnh” cho dân các họ.

Năm 1959, làng bắt đầu thành lập hợp tác xã, đội giữ rừng từ đó ghi vào sổ sách, đến nay tròn 52 năm. 11 lực điền chắc khỏe xung phong nhận lệnh giữ rừng, có nhiều thế hệ lần lượt vào đội trong mưa bom bão đạn để vun đắp ngàn vạn cây nhằm tránh cho làng khỏi tai ương bão tố của trời đất biển cả.

Thời thế có nhiều biến thiên, nhưng con số thành viên giữ rừng của làng không đổi, từ xưa đến nay vẫn cử ra 11 trai đinh lực lưỡng. Nghe kể, đó là đại diện của 11 chức sắc đầu tiên vào khai lập đất làng, nên cử ra với trách nhiệm coi sóc đất rừng.

Đội giữ rừng dân nuôi

Từ xưa, đội giữ rừng được dân làng trả công bằng lúa thì nay người làng vẫn giữ lệ góp lúa mỗi vụ. Bởi với họ, rừng trâm bầu còn thì mạch sống của làng còn, rừng trâm bầu mất đất làng sẽ cằn cỗi, sức làng xiêu tán. Họ ý thức thế nên đến vụ mùa thu hoạch lúa, người làng chọn ra từng mớ chắc nịch đến nộp cho thôn để nuôi các thành viên giữ rừng của làng.

Từ năm 1959 đến năm 1989, mỗi người giữ rừng trong đội được chấm công, mỗi công có khi vài lạng thóc, cuối năm nhận vài yến, không đủ ấm cật, nhưng mỗi người giữ rừng vẫn ngày đêm theo việc. Từ ngày đất nước mở cửa, người làng làm ăn khấm khá, vụ mùa tốt tươi, ai cũng nghĩ đến công lớn từ đội giữ rừng nên làng nhất trí nộp thóc cao hơn để nuôi những người giữ gìn mạch sống của ngàn dân.

Dân làng không chặt trâm bầu mà chỉ quét lá về nấu bếp.

Trưởng thôn Minh nói rằng: “Sức làng mỗi ngày một khác, dân làng mỗi năm một thay đổi nên họp lại, ai cũng nhất trí mỗi khẩu của làng một vụ mùa góp 1,5kg thóc, làng làm lúa 2 vụ, mỗi khẩu góp 3 cân một năm. Người nghèo khỏi phải góp, thành ra mỗi người trong đội giữ rừng cả năm nhận từ tấm lòng dân làng 8 tạ thóc, tính theo giá hiện tại, mỗi cân 3.900 đồng, được hơn 3 triệu đồng. Đội giữ rừng dân nuôi là thế. Nói rứa thôi, chứ từng đó thóc làm sao họ sống đủ, phải làm nghề biển, rồi cày nghề nông mới đủ ăn cho vợ con”.

Anh Dương Văn Huy, tổ trưởng tổ giữ rừng nói: “Lúa gạo dân cho là cái ơn dân nuôi, của ít lòng nhiều, anh em vẫn bảo ban nhau làm việc trách nhiệm, mình giữ được, giữ tốt thì dân nghe, không phá, không nghi kỵ nhau trong xóm trên ngõ dưới. Trách nhiệm của mình phải bảo vệ rừng cho làng khỏi bị sóng gió cướp mất đất”.

Thoát nạn titan

Người làng thống kê rằng, diện tích của làng có 378ha, đất nông nghiệp chiếm 153ha, đất thổ cư 20ha. Trong 205ha còn lại, trâm bầu chiếm hơn 100ha, số còn lại là rừng dương cổ thụ trăm năm tuổi. Trưởng thôn Minh khẳng định: “Hơn 100ha rừng trâm bầu chứ không chơi, trải dài từ đầu thôn đến cuối làng, lan sang cả thôn Xuân Kiều kế bên nữa”. Đấy là con số thể hiện sự bền chí của người Thanh Bình qua mấy trăm năm, càng ngỡ ngàng hơn khi lội bộ giữa rừng trâm bầu xum xuê bát ngát.

Chưa ai đoán định rõ rừng trâm bầu ở đây bao nhiêu tuổi, chỉ một điều người làng hiểu rõ, nó nhiều hơn số tuổi của làng lập ra cách đây 460 năm. Trâm bầu ken dày trên cát. Đi dưới tán rừng, từng thớ thịt xoắn lại, muôn hình muôn vẻ vươn vai vâm váp.

Để giữ rừng, lệ làng đặt ra nghiêm khắc, ai bẻ cành bị phát hiện sẽ phạt 50.000 đồng, ai chặt cây sẽ phạt 300.000 – 500.000 đồng. Người làng chỉ có phép quét lá trâm bầu về nấu bếp, tuyệt đối vào rừng không mang theo dao, rựa. Họ biết rằng, rừng trâm bầu là nơi phòng vệ tuyệt vời cho cả làng, nên phụ nữ vào rừng thường chỉ đưa theo cái chổi rành quét lá về dùng.

Tôi đi hết khu rừng, gặp nhiều người phụ nữ làng cần mẫn quét từng mớ lá dưới cội trâm bầu mới biết ý thức của họ cao lạ kỳ. Thói đời, có nơi này nơi kia, nhiều người vào rừng cứ tự ý bẻ cành cho khô, sau đó vào thu hoạch.

Nhưng theo như bà Hường, sống ở cuối làng nói: “Làng có lệ làng nhưng cũng từ ý thức nữa, giữ là giữ chung không chỉ cho làng, mà cho cả xã. Nước của làng nhờ vào rừng trâm bầu lọc trong, cấp cho các làng bên nữa, dân tui mà ham hố, bẻ cành, bẻ nhánh để chờ khô ra quét lá thì có lỗi với làng lắm”.

Các bậc cao niên của làng nhớ lại rằng, tháng năm kháng Pháp, rừng trâm bầu là nơi náu ẩn của du kích đánh giặc, rồi thời gian chống Mỹ, bao ụ pháo ngụy trang dưới tán trâm bầu, khạc lửa đối đầu với tàu chiến. Mùa hè, nhiều mảnh làng láng giềng của Thanh Bình nước nôi khô kiệt nhưng nước ở rừng trâm bầu vẫn chắt lọc vô biên vào từng ngôi nhà nhỏ qua cái giếng khơi từ ụ cát và họ trở thành người hào hiệp tặng nguồn nước mát lành ấy cho bạn bè quanh vùng.

Từng một thời khu rừng trâm bầu và rừng dương cổ thụ của làng bị đưa vào bản đồ khai thác titan của một công ty địa phương. Đảng bộ bộ phận thôn Thanh Bình họp lại, lấy ý kiến toàn dân làng phản đối dự án. Họ đi tỉnh, đi Trung ương hàng trăm chuyến và thành công. Bởi nếu trâm bầu và rừng dương bị lật lên để lấy titan, cả làng, cả xã, cả một vùng đất rộng lớn mất sức sống. Sự phản đối ấy dân làng Thanh Bình thắng, titan không được khai thác và trâm bầu vẫn được giữ nguyên.

Một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian địa phương nói: “Làng Thanh Bình đặt hương ước bảo vệ rừng như bảo vệ hồn làng, đưa nhân khẩu nộp thóc tự nguyện nuôi đội giữ rừng trâm bầu, rừng dương cổ thụ là một cách ứng xử văn hóa với tự nhiên. Mảnh làng ấy chắc chắn kiên cường với thời tiết thiên tai”.

Chia tay mảnh làng nhỏ bên bờ biển lớn, thấy làng cường tráng thêm bên chân sóng, chắc chắn, vững vàng hơn nhờ rừng trâm bầu xanh tốt và nhờ chính vào chí khí làng biển bên bờ biển Đông.

Ông Đặng Phúc Duệ, Trưởng ban Thi đua - khen thưởng tỉnh Quảng Bình khi nghe PV Báo SGGP phát hiện về rừng trâm bầu cổ thụ và đội giữ rừng dân nuôi đã đích thân đến xem xét và yêu cầu địa phương báo cáo thành tích để làm cơ sở báo cáo Thủ tướng Chính phủ, đề nghị Thủ tướng khen thưởng thành tích giữ rừng độc đáo, có một không hai của người dân địa phương ở đây.

Quảng Bình hiện có diện tích rừng trên cát hơn 5.000ha, đó là điểm xanh hiếm thấy dọc dài miền Trung.

Minh Phong

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Phòng chống dịch Covid-19 nhìn từ Trung Quốc

Phòng chống dịch Covid-19 nhìn từ Trung Quốc

Theo China Daily, ngày 27-10, giới chức y tế tại Khu tự trị Tân Cương (Trung Quốc) thông báo phát hiện 161 ca nhiễm Covid-19 không triệu chứng sau khi xét nghiệm cho 4,74 triệu dân tại TP Kashgar.

Ảnh

Nghĩa đồng bào...

Những ngày qua, mưa lũ dồn dập tàn phá nặng nề tài sản, nhà cửa, công trình của người dân dọc dải đất miền Trung. Chưa bao giờ những cơn lũ hung hãn đến vậy. Thiên tai vẫn chưa chịu dừng lại, trong khi lũ chồng lũ, bão từ Biển Đông cũng nối nhau ập đến, khiến cả dải đất miền Trung luôn đặt trong tình trạng báo động khẩn cấp. Trong những ngày bão, lũ vắt kiệt sức người dân nơi rốn lũ, thì đồng bào cả nước đã chung tay che chở, hỗ trợ người dân miền Trung ruột thịt gượng dậy...

Video

Điểm tin SGGP Online ngày 29-10-2020

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường thăm hỏi người dân Quảng Ngãi sau bão số 9; Thảm họa sạt lở vùi lấp 53 người ở Trà Leng, Trà Vân: Tìm thấy thi thể 16 nạn nhân; Khởi tố 2 đối tượng sát hại nữ sinh Học viện Ngân hàng; Hội nghị Bộ trưởng Lao động ASEAN và ASEAN+3… là những nội dung đáng chú ý có trong Điểm tin SGGP Online ngày 29-10-2020.

Giao lưu trực tuyến