Một “thế giới vô nhi”

Chính sách “sinh con có thưởng” (gần 14.000 USD/ca sinh) được áp dụng tại thị trấn Laviano cũng như nhiều vùng khác tại Ý đã cho thấy một phần bức tranh khủng hoảng gia đình tại nhiều nước trên thế giới, khi người ta ngày càng “làm biếng” sinh con.

  • Một thế giới không tiếng cười trẻ thơ

Những hạt giống hiếm hoi của nước Nhật.

Trên Newsweek (4-9-2006), cây bút Stefan Theil đã kể lại nhiều câu chuyện về “thế giới vô nhi” khắp châu Âu. Tại quán cà phê sang trọng Da Capo ở quảng trường náo nhiệt Kolonaki thuộc trung tâm Athens (Hy Lạp), những người ở độ tuổi 30-40 thành công trong sự nghiệp chuyên môn đang nhâm nhi ly cappuccino đá.

Chủ đề bàn luận là xu hướng quan hệ trong xã hội hiện đại – nam giới lừng khừng kết hôn; phụ nữ thích độc lập; và chuyện thời điểm nào nên có con hoặc chẳng biết phải nhất thiết có con hay không…

“Năm tháng trôi qua, cơ hội có con với tôi bắt đầu thấp dần” – tâm sự của Eirini Petropoulou, 37 tuổi, trợ lý quản trị làm việc tại hãng tin AP – “Nhưng tôi chẳng thèm kết hôn nếu chỉ để có con”. Petropoulou thích công việc đang làm và dùng giờ rảnh để gặp parea – nhóm bạn thân có cùng quan điểm. “Nếu 45 tuổi mà vẫn không lập gia đình, tôi sẽ xem xét việc xin con nuôi” – Petropoulou nói tiếp.

Cách đây vài thập niên, những người như Petropoulou được xem là kỳ lạ và không bình thường trong xã hội Hy Lạp, nơi được đánh giá là một trong những xã hội nặng truyền thống nhất châu Âu và nơi mà Chính thống giáo tỏ ra nghiêm nhặt trong vấn đề hôn nhân và (nhất thiết phải) sinh con đẻ cái - phụ nữ không con bị xem là “gái độc” và đàn ông không con bị đánh giá là “có vấn đề”. Cách nghĩ kiểu cũ bây giờ không còn nữa. Hậu quả, tỷ lệ sinh tại Hy Lạp hiện thấp hơn chuẩn Liên minh châu Âu (EU) và nằm trong số những quốc gia có tỷ lệ sinh thấp nhất thế giới (1,3 con/phụ nữ).

“Chưa bao giờ việc không có con được xem như một chọn lựa mang tính hợp pháp đối với phụ nữ và nam giới trong nhiều xã hội khắp thế giới như hiện nay” – nhận xét của Catherine Hakim, nhà nghiên cứu (đang khảo sát hiện tượng “thế giới vô nhi”) thuộc Trường Kinh tế Luân Đôn. Tại các nước như Singapore, Thụy Sĩ, Canada, Hàn Quốc…, thế hệ trẻ đang có khuynh hướng kéo dài thời gian độc thân hoặc hoãn việc có con sớm cho đến độ tuổi 30 hoặc thậm chí 40.

“Đời sống không con” tại miền Tây nước Đức chiếm 30% đối với phụ nữ có trình độ đại học và một tỷ lệ tăng nhanh tương tự đối với nam giới ở tầng lớp trung bình. Tại Anh, số phụ nữ duy trì tình trạng không con đã tăng gấp đôi trong 20 năm qua. Tại Nhật, nơi tỷ lệ sinh chỉ ở mức 1,25/phụ nữ, hiện có đến 56% phụ nữ 30 tuổi không con, so với 24% năm 1985. “Việc họ (phụ nữ Nhật) trở thành mẹ hay không sẽ quyết định tương lai nước Nhật” – Miho Iwasawa (Viện Nghiên cứu Dân số quốc gia Nhật Bản) thậm chí nói như vậy để nhấn mạnh mức độ nguy kịch của một nước Nhật già.

  • Tại sao không muốn có con?

Khổ nỗi, cách sống kiểu mới vô hình trung đang cổ xúy cho “đời sống không con”. Tại Anh, thị trường sách dành cho đối tượng đặc biệt này đang bùng nổ, chẳng hạn quyển Child-Free and Loving It (Không con cái và thích thế) của nhà báo Nicki Defago. Các nhóm xã hội ủng hộ đời sống không con cũng hoạt động rôm rả, từ nhóm No Kidding! ở Vancouver (Canada), No Child ở Mỹ đến British Childfree Association ở Anh. Tại Nhật, một xã hội không con hoặc hoãn việc có con được hậu thuẫn từ các sản phẩm chẳng hạn như gối Bạn trai của hãng Kameo, mốt nuôi vật cưng đến thú chơi “chim, mèo, cá cảnh” bằng robot. Hãng Honda hiện thiết kế mẫu xe hơi thay ghế trẻ con bằng ghế dành cho chó.

Ở Úc, giới kinh doanh bất động sản đang quảng cáo các căn hộ thiết kế đặc biệt dành cho người độc thân (tại Anh, giá căn hộ gia đình thậm chí thấp hơn 5% so với giá căn hộ dành cho thành phần không vướng víu vấn đề con cái). Nhiều khách sạn cũng nhắm trực tiếp đến đối tượng độc thân. Khu nghỉ mát La Veduta tại Ý từng quảng cáo: “Ngày nghỉ của bạn sẽ không bị làm hỏng bởi tiếng la hét trẻ con”. Tại Rome, nhiều nhà hàng công khai bày tỏ không tiếp khách trẻ con (bằng cách đề bảng chỉ tiếp khách từ 18 tuổi).
 
Tây Âu từng kinh qua một giai đoạn khi ¼ phụ nữ không có con (tỷ lệ cao hơn bất kỳ quốc gia nào thời điểm hiện tại). Tuy nhiên, sự không con trong quá khứ châu Âu là hậu quả bởi đói nghèo, chiến tranh, tỷ lệ nam giới giảm (do chết trận)… Bây giờ, một châu Âu thịnh vượng “cơm no bò cưỡi” lại chán chê vấn đề con trẻ. Nó là kết quả của một chuỗi yếu tố – quan hệ gia đình, cơ hội (thăng tiến) nghề nghiệp, phong cách sống…, tạo ra một thế hệ tôn sùng “chủ nghĩa” DINK (double-income-no-kids – thu nhập gấp đôi và không con cái).

Xu hướng không con thậm chí lan rộng đến nhiều vùng quê châu Âu, nơi vốn quen thuộc với hình ảnh gia đình con cháu đề huề (¼ trong tất cả phụ nữ Ý độ tuổi 40 đều cho biết không thích có con!). Trong vài trường hợp, thái độ không thích có con là một sự phản kháng. Tại Nhật, việc ủng hộ phụ nữ có con tiếp tục được đi làm gần như không tồn tại (vài công ty kiên quyết không nhận lại nữ nhân viên sau khi sinh nở). Giữa sự chọn lựa có con và công việc, phụ nữ Nhật đã ưu tiên chọn công việc vì chăm sóc trẻ bây giờ cũng tốn kém trong khi các ông lại thường đùn đẩy...
 
Dù vì bất kỳ lý do nào, thái độ phản kháng trên cũng là một cách sống đầy ích kỷ cá nhân và tiêu cực đối với nền tảng phát triển nói chung của tương lai thế giới. Nhiều chính sách đang được áp dụng để chặn đứng trào lưu không con. Tại Slovakia, tháng 3-2006, một cố vấn kinh tế cấp cao thuộc Hội đồng chiến lược về phát triển kinh tế đã đề xuất việc đánh thuế đối với tất cả công dân từ 25-50 tuổi không con.

Tại Nga, nơi tỷ lệ sinh giảm từ 2,3 vào thập niên 80 xuống còn 1,3 hiện tại, một tổ chức vận động doanh nghiệp cũng yêu cầu đánh thuế thu nhập phụ cho các cặp không con. Và tại Đức, lương hưu đối với thành phần không con đang bị đề nghị cắt 50%. Nhiều nước cũng bắt đầu nghiên cứu chính sách hỗ trợ cho các gia đình có con thứ ba hoặc thứ tư, như tại Pháp. Tuy nhiên, vấn đề tuyên truyền nhằm thay đổi cách sống mới thật sự quan trọng. Cần nhấn mạnh, khả năng sinh bắt đầu giảm nhanh sau tuổi 35, dù nhiều kỹ thuật hiện đại có thể giúp trứng sống lâu hơn.

Lê Thảo Chi 

* Tại thị trấn Laviano (Ý), từ năm 2003, thị trưởng Rocco Falivena bắt đầu áp dụng chính sách “sinh con có thưởng” nhằm làm tăng tỷ lệ bambini (trẻ con) tại địa phương, với gần 14.000 USD được trao cho gia đình có trẻ sinh đầu lòng (chia trong 5 năm đầu tiên của đứa bé). Từ năm 2004, Chính phủ Ý áp dụng chính sách hỗ trợ trọn gói 1.300 USD cho các cặp có con thứ hai. Tỷ lệ người già tại Ý đang trong tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng với số đối tượng 65 tuổi hoặc hơn nhiều nhất thế giới (thống kê 2003). Theo đà này, dân số Ý (hiện 58,7 triệu) sẽ giảm 1/3 vào trước năm 2050 (theo Los Angeles Times 9-1-2005)

* Một thập niên qua, tỷ lệ người già tại Nhật đã tăng 183%. 1/5 người Nhật hiện ở tuổi 65 và đến năm 2050, tỷ lệ trên là 1/3! Ngân sách 2006 cho tiền hưu, chăm sóc y tế và dịch vụ liên quan dành cho người già chiếm đến 828 tỷ USD (so với 516 tỷ USD năm 2003) – gấp 6 lần năm 1986. Đến năm 2025, ngân sách trên có thể lên đến 1,37 ngàn tỷ USD! Và nước Nhật (dân số 128 triệu) còn phải điều chỉnh nhiều thứ để phù hợp cho một dân số già nua. Awaji Journal (4-9-2006) cho biết Lawson (dây chuyền siêu thị lớn thứ hai tại Nhật với gần 8.400 cửa hàng) dự kiến thay đổi cấu trúc (bên trong) với gần 1.700 cửa hàng nhằm giúp người già tiện hơn khi mua sắm (dọn kệ thấp hơn, khoảng cách kệ rộng hơn…). Hiện tượng tỷ lệ người già Nhật chưa bao giờ được đánh động nhiều bằng lúc này, như một vấn đề được nâng lên tầm chính sách quốc gia (trở thành một trong những nghị sự chính trong cuộc bầu cử 20-9-2006).  

Các tin, bài viết khác