Ngành dầu khí phát huy nội lực, kích cầu sử dụng dịch vụ trong nước

Với trách nhiệm và vai trò là đầu tàu kinh tế của đất nước, là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô của Chính phủ, đồng thời thực hiện kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo số 49/TB-VPCP ngày 17-2-2009 về việc “đồng ý về nguyên tắc Tập đoàn Dầu khí được chỉ định các đơn vị thành viên cung cấp dịch vụ để thực hiện các dự án đầu tư của Tập đoàn nhằm phát huy nội lực và kích cầu dịch vụ trong nước”, Đảng ủy Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã ban hành và tập trung chỉ đạo thực hiện Nghị quyết chuyên đề số 233/NQ-ĐU ngày 17/03/2009 (Nghị quyết 233) về “Phát huy nội lực, tăng cường và ưu tiên sử dụng các dịch vụ của các đơn vị thành viên trong Tập đoàn” nhằm khắc phục sự suy giảm doanh thu Dầu khí trong GDP của cả nước và duy trì tăng trưởng bền vững. 

Với nghị quyết này, sau 1 năm thực hiện, Tập đoàn đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Theo đó, năm 2009 Tập đoàn đạt mức kỷ lục về tốc độ tăng trưởng dịch vụ dầu khí (đạt mức tăng 58% so với năm 2008); cả giai đoạn 2006-2009, doanh thu lĩnh vực dịch vụ dầu khí toàn Tập đoàn đạt 242,27 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,6% tổng doanh thu toàn Tập đoàn (cao hơn so với mục tiêu kế hoạch 5 năm đề ra là chiếm từ 20-25% tổng doanh thu toàn Tập đoàn), đạt tốc độ tăng trưởng 35,4%/năm (so với mục tiêu kế hoạch 5 năm đã đề ra là trung bình 20%/năm).

Duy tu bảo dưỡng Nhà máy Dinh Cố.

Đến cuối năm 2009, Tập đoàn DKVN và các đơn vị thành viên đã xây dựng được hệ thống cung cấp dịch vụ dầu khí bao trùm nhiều lĩnh vực: dịch vụ kỹ thuật dầu khí; dịch vụ tài chính, bảo hiểm; dịch vụ xuất khẩu dầu, cung cấp sản phẩm dầu, vận chuyển dầu, khí; dịch vụ tư vấn, xây dựng, hỗ trợ sản xuất kinh doanh; dịch vụ khoa học - công nghệ và đào tạo... với cơ sở vật chất mạnh, cụ thể: đã xây dựng và vận hành 11 căn cứ cảng dịch vụ sản xuất; 5 giàn khoan (PVD+VSP); 07 kho nổi/chứa xuất dầu (kể cả 02 kho của PVTrans); 11 tàu vận chuyển dầu; 45 tàu dịch vụ các loại (VSP+PTSC); 03 đường ống dịch vụ vận chuyển khí; trên 100 phương tiện chuyên dụng (xe cầu, cần cẩu) các loại; 23 kho xăng dầu đầu mối và trung chuyển với tổng sức chứa trên 940.000m³, trên 730 cửa hàng trực thuộc và các tổng đại lý/đại lý với 2.400 cửa hàng bán lẻ xăng dầu trên toàn quốc; 10 kho LPG với tổng sức chứa trên 80 nghìn tấn, 12 kho đạm với tổng sức chứa trên 215 nghìn tấn...

Đến nay, hầu hết các đơn vị dịch vụ của Tập đoàn đều có đủ năng lực (cả về con người và cơ sở vật chất) và khả năng cạnh tranh để thực hiện  được 100% yêu cầu dịch vụ theo mục tiêu trọng tâm của từng đơn vị; điển hình là các đơn vị: XNLD Vietsovpetro (dịch vụ xây lắp các công trình biển), PTSC (dịch vụ xây lắp các công trình biển, tàu thuyền, kho/bãi); PVD (khoan và dịch vụ khoan); PVC (xây lắp các công trình dầu khí trên bờ, trên biển, các công trình dân dụng dầu khí); PVGas (vận chuyển khí bằng đường ống, cung ứng khí dân dụng), PVTrans (vận chuyển sản phẩm dầu, khí, hóa chất), PVOil (dịch vụ thương mại, xuất nhập khẩu dầu thô và xăng dầu, cung ứng các sản phẩm dầu), PVI (cung cấp dịch vụ bảo hiểm), PVFC (cung cấp dịch vụ tài chính); EIC (cung cấp dịch vụ kiểm định năng lượng), và các đơn vị khác: DMC, VPI, PVMTC ...

Có thể nói, hiệu quả mang lại từ việc triển khai thực hiện Nghị quyết 233 trong năm 2009 của Tập đoàn dầu khí đã thấy rất rõ, song đó mới chỉ là kết quả bước đầu, bước sang năm 2010 và những năm tiếp theo để có nhiều đóng góp hơn nữa cho đất nước, xây dựng Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam tiếp tục và đẩy mạnh tổ chức thực hiện Nghị quyết số 233/NQ-ĐU ngày 17-3-2009 của Đảng ủy Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Phấn đấu tăng trưởng dịch vụ dầu khí đạt vượt mức 15% so với năm 2009 như đã đăng ký với Chính phủ. Tập trung đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị chuyên dụng, con người để nâng cao chất lượng, năng lực dịch vụ và khả năng cạnh tranh của các đơn vị. Tiếp tục giao cho các đơn vị thực hiện tối đa các dịch vụ trong nội bộ Tập đoàn phù hợp với năng lực của từng đơn vị; phấn đấu đạt giá trị sử dụng dịch vụ trong nội bộ Tập đoàn chiếm 30-35% tổng nhu cầu dịch vụ toàn Tập đoàn (năm 2009 là 16,5%). Tiếp tục đẩy mạnh phát triển dịch vụ dầu khí ra nước ngoài, trước mắt là tập trung thực hiện dịch vụ cho các dự án của Tập đoàn và các đơn vị thành viên của Tập đoàn đầu tư ở nước ngoài, gắn kết chặt chẽ giữa các đơn vị trong việc cùng tạo ra hệ thống sản phẩm, dịch vụ chung...

 S.Nâu

Các tin, bài viết khác