Ngẫu đọc với Đường thi ngẫu dịch của Trương Nam Hương

Thơ Đường là thành tựu sáng giá nhất trong gần ba thế kỷ tồn tại của triều đại nhà Đường, Trung Hoa (từ năm 620 đến năm 907), có ảnh hưởng sâu sắc đến văn học cổ điển Việt Nam.

Những bản dịch thơ Đường từng lưu hành cách nay trên dưới một thế kỷ, lớp người trẻ bây giờ đọc, sự cảm nhận chắc chắn bị hạn chế không ít.

Gần đây cũng có một số bản dịch thơ Đường được xuất bản và in rất đẹp. Đây là tín hiệu mới mẻ. Nhưng đã là tin vui mừng chưa, thì chưa chắc. Tôi có đọc một số bản thì hơi bị... thất vọng bởi nhiều khi vì cố gò vào vần điệu mà lời lẽ nghe không lọt tai. Thì ra có một điều đơn giản, ấy là ngôn ngữ. Dịch thơ là phải có ngôn ngữ thơ. Không phải nhà thơ thực sự thì khó có được ngôn ngữ thơ.

Với cảm nhận hơi khắt khe như trên, tôi tìm đọc cuốn “Đường thi ngẫu dịch” của Trương Nam Hương. Nhà thơ ngẫu dịch, tôi cũng ngẫu đọc, ngẫu viết... thử xem sao.

Tôi mở tình cờ như kiểu bói Kiều. Trang 165, bài “Tây Thi thạch” của Ngâu Dĩnh: “Tây Thi tích nhật cán sa tân/Thạch thượng thanh đài sầu sát nhân”. Chữ sầu sát nhân là rất khó diễn đạt. Nếu dịch sát nghĩa thì sát nhân là giết người. Sắc thái của câu thơ không phải vậy, Trương Nam Hương dịch: “Nàng xưa giặt lụa bến này/Rêu xanh phủ đá, buồn day diết người”. Chữ day diết là từ kết hợp mới, có nguồn gốc từ hai từ ghép day dứt và da diết. Diết chứ không phải giết, một giải pháp rất thông minh và sáng tạo của nhà thơ đã gỡ được một thế rất bí của trường hợp này. Nói chung khi dịch thơ ta luôn gặp những trường hợp rất khó như thế. Phải hiểu kỹ về sắc thái ngôn từ trong văn cảnh đó, còn phải hiểu tiến trình phát triển rất đặc trưng của các dòng ngôn ngữ khác nhau, ta mới không nhầm lẫn.

Nét nổi bật nữa trong tập thơ dịch này là ngôn ngữ thơ thanh thoát, mới mẻ, uyển chuyển. Độc giả trẻ ngày nay đọc tập này sẽ thấy thoải mái hứng khởi chứ không giống như đọc bản dịch nào đó của vị túc nho uyên bác cách nay một thế kỷ (có trường hợp học sinh, sinh viên nói học thơ mà như bị tra tấn).

Bây giờ tôi điểm một bài nổi tiếng mà những người yêu thơ đều biết, bài “Lương Châu từ” của Vương Hàn. Trương Nam Hương dịch:

“Bồ đào rượu ngát trong ly ngọc
Đàn thúc lên yên, rượu muốn khề
Say xoãi sa trường - anh chớ cợt
Xưa nay chinh chiến mấy ai về!”

Các chữ ngát, khề, xoãi, cợt, Trương Nam Hương dùng vừa mới, vừa gần gũi với độc giả thời nay, vừa thể hiện được hoàn cảnh của anh lính chiến trên một nghìn năm trước.

Bài “Thu triêu lãm kính” của Tiết Tắc, Trương Nam Hương dịch là “Sớm thu soi gương”:

“Khách thót lòng lá rụng
Đêm ngồi nghe gió thu
Sớm thấy tóc xòa mặt
Đời trong gương bơ phờ!”

Những chữ thót lòng, tóc xòa mặt, đời trong gương bơ phờ rất tâm trạng mà rất đời thường, ta khó gặp được ở bản dịch xưa. Chả xa xôi, nhiều bản dịch gần đây, tôi đọc thấy nhan nhản những chữ quá cũ: sầu cố nhân, ánh nguyệt tà, bụi trần, gối lẻ, lệ vơi đầy, biệt ly, dăm tiếng tiêu vi vút, nam nhi, hú sầu, song cửa, lối quạnh hiu, du tử, viễn khách, tục loan truyền, khúc tàn dương, mấy giọt sầu, bóng xế, rớm lệ, tiếng địch, biên ải, đẫm mi, mỹ nhân...

Dịch thơ cổ điển khó tránh những từ ngữ, hình ảnh ước lệ như cố hương, chàng, thiếp... Để mang sắc thái xa xưa, cũng chỉ nên sử dụng có mức độ, hợp lý, không nên lạm dụng dễ dãi. Trương Nam Hương khá kỹ trong việc này. Nhiều trường hợp cần điểm nhãn, anh có những nhãn tự khá đắc địa. Bài “Xuân mộ” của Tào Bân, câu “Thanh thảo trì đường độc thính oa” dịch là “Cỏ biếc bên đầm tiếng ếch côi”. Bài “Sơn phòng xuân sự” của Sầm Tham, câu “Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa” dịch là “Lại nở xuân này thuở ấy hoa”. Những từ tiếng ếch côi, thuở ấy hoa là những nhãn tự, là điểm sáng của bài thơ dịch. Nếu không phải là nhà thơ, khó viết được những cụm từ kết hợp ấy.

Cuốn sách được chăm sóc kỹ nên ít lỗi. Chỉ có đôi trường hợp chữ Hán: chữ vũ in thành chữ lưỡng (trang 38); chữ ô thành chữ điểu (trang 190).

Nguyễn Vũ Tiềm

Tin cùng chuyên mục