Thiếu tướng Phùng Đình Ấm, mà mọi người vẫn quen gọi là chú Ba Cung, năm nay đã ngoài tám mươi. Mấy năm gần đây sức khỏe chú giảm sút nhiều vì căn bệnh suy thận hành hạ nhưng chú vẫn lạc quan, yêu đời. Tới nhà chú Ba tôi thường gặp khách từ những vùng quê ghé chơi.
Lần này tôi gặp những người dân tộc Stiêng. Chú Ba Cung giới thiệu tên từng vị khách và nói: “Tôi được quen bà con từ những năm sáu mươi thế kỷ trước. Ngày đó, tôi nhận lệnh đi mở đường Trường Sơn. Đó là những năm sáu mươi”. Và câu chuyện mở ra…
Hành quân theo vệt chì đỏ trên bản đồ!
Sau 35 năm, thiếu tướng Phùng Đình Ấm (trái) gặp lại người đảng viên đầu tiên ở vùng Ba biên giới (ảnh chụp năm 1996).
Thời gian này mở một con đường chiến lược xuyên dãy Trường Sơn vào Nam là hết sức cần thiết, Bộ Tư lệnh 559 được thành lập và được giao nhiệm vụ thông đường tới tỉnh Đắc Lắc, từ đó xuống đồng bằng.
Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nhận thấy cần phải mở một con đường nối từ Đắc Lắc đến Nam bộ theo hướng Phước Long sẽ tạo nhiều thuận lợi và giữ được bí mật cho bộ đội hành quân và vận chuyển hàng hơn.
Bác Hồ đã trực tiếp chỉ đạo thành lập Đoàn B90, độc lập với Đoàn 559, để mở đường Trường Sơn nối từ Đắc Lắc tới miền Đông và miền Tây Nam bộ. Sau một thời gian chuẩn bị, đồng chí Trần Văn Trà, Phó Tổng tham mưu trưởng, dự kiến khung ban đầu của Đoàn B90 có 50 người, được chọn từ cán bộ miền Nam tập kết.
Sau khi bàn bạc, Quân ủy Trung ương đồng ý chọn 25 người, giao cho đồng chí Trần Quang Sang làm trưởng đoàn, chú Ba Cung và đồng chí Phạm Lạc làm phó đoàn. Ngày thành lập là 25-5-1959.
Sau một tháng huấn luyện, ngày 20-6-1959, đoàn lên đường. Xe ô tô bịt nóc chở cả đoàn vào làng Ho, Quảng Bình rồi từ đó đi bộ vào Nam. Lúc này chưa có đường mòn, họ phải theo vệt chì đỏ đã vạch trên tấm bản đồ còn rất mới, đạp rừng, lội suối, leo dốc để đi.
Sau bốn tháng đi bộ, đoàn dừng chân ở N’Dru Đak Rồ, một làng nhỏ của đồng bào M’Nông. Họ được đội vũ trang công tác Nam Đắc Lắc đưa về nương rẫy tự túc của đội nghỉ ngơi, đây cũng là nơi đứng chân của Tiểu đoàn Nơ Trang Lơng, tỉnh Đắc Lắc. Sau đó, đội vũ trang công tác được nhập vào Đoàn B90, lấy phiên hiệu là B4, do đồng chí Vũ Anh Ba làm bí thư.
Đoàn lấy một số đồng chí ở lại bảo vệ hành lang, giữ vững liên lạc với tỉnh Đắc lắc, còn lại chia thành hai đội, đội thứ nhất do đồng chí Đông và đồng chí Nhường mở về hướng Đông tỉnh Quảng Đức, đội thứ hai vượt qua sông Mã Đà bắt liên lạc với lực lượng ta ở Mã Đà - Tà Lài do đồng chí A Ma Thu phụ trách, chú Ba Cung làm bí thư chi bộ.
Bộ đội cụ Hồ nhận người bị hủi làm cha nuôi
Lại lên đường, lại theo vệt đỏ trên bản đồ xuyên rừng mà tới. Buôn đầu móc ráp là Bu Di rắh, với khoảng 13 nóc nhà. Từ cơ sở buôn Bu Di rắh, đội của chú Ba Cung đến buôn Bu ng’lao nhưng do có thám báo của địch thường xuyên qua lại nên không thể vào được.
Một hôm, chú phát hiện một cái chòi, bên ngoài cửa cắm thân cây xương rồng, ám hiệu chỉ người bị bệnh truyền nhiễm hoặc bị ma lai, không ai được đến gần. Chú đến và thấy một ông già bị bệnh hủi đang nằm co ro, ngón chân sưng vù, rỉ máu. Chú đến gần và chào rất lễ phép khiến ông già ngạc nhiên đến tròn cả mắt.
Khi chú bước lên chòi, ông già xua tay vì sợ lây bệnh nhưng chú vẫn tươi cười bước đến và trò chuyện với ông già. Ông già giới thiệu tên là Phơm, người buôn Bu ng’lao và cho chú biết, ông mắc bệnh hủi nên bị đưa ra xó rừng này.
Ngay đêm ấy, chú cho cả tổ chuyển vào mắc võng ở mé rẫy, còn chú ở trong chòi với ông già. Từ đó, chú chăm sóc ông già. Thấy anh bộ đội chăm sóc mình, ông già không cầm nổi nước mắt. Thế rồi, chú xin ông già Phơm nhận mình làm con nuôi.
Khi dân làng Bu ng’lao biết chuyện, đích thân già làng đã tới mời chú Ba Cung và đội về buôn chơi. Trong đêm đốt lửa, ăn cơm nếp mới, uống rượu cần, già làng đã kể lại câu chuyện anh bộ đội cụ Hồ chăm sóc ông già Phơm bị hủi cho dân làng nghe và bảo mọi người phải giúp đỡ bộ đội.
Hôm sau, già làng cho đâm trâu, đưa cho chú Ba Cung một bát huyết trâu. Với người M’Nông đây như một chén rượu thề. Trước mặt dân làng, chú Ba Cung kính cẩn uống hết bát huyết trâu còn nóng hổi. Từ đó, mọi người coi chú là người con của buôn làng Bu ng’lao.
Từ đó, cơ sở cách mạng mở rộng ra các buôn khác. Cho tới, giữa tháng 10-1960, chú Ba Cung nhận được bức điện của cánh quân phía Nam hẹn gặp nhau vào đêm 4-11. Bức điện khiến mọi người reo lên vui mừng vì coi như từ đây đường đã thông suốt. Cùng lúc đó, một đoàn cán bộ của trung ương chi viện cho Nam bộ đến và chờ ngày khai thông liên lạc để đi tiếp.
Khoảng một tuần sau khi nhận được báo cáo của tổ do chú Ba Cung dẫn đầu cung cấp, đoàn cán bộ do đồng chí Hai Trà, sau này được tặng danh hiệu Anh hùng, từ phía ngoài đi vào. Mở đầu cho tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua tỉnh Quảng Đức.
Tới bây giờ, sau nửa thế kỷ chú Ba Cung vẫn thường đến buôn Nrao thăm bà con buôn làng. Buôn Nrao đã đổi mới nhiều, đồng bào đã biết trồng điều, trồng lúa nước, toàn buôn đã có điện, có trường học, có bệnh xá và không còn người mắc bệnh hủi. Trong những đêm lễ hội, già làng và những bậc cao niên vẫn kể cho lớp con cháu nghe chuyện anh bộ đội Ba Cung nhận một người bị hủi của buôn làng làm cha nuôi. |
Anh Đường - Phương Loan