Một cán bộ phòng kiểm tra cơ quan Bảo hiểm Xã hội TPHCM - người chuyên phụ trách mảng “kiện tụng” những doanh nghiệp nợ tiền BHXH có kể một câu chuyện “hậu trường” trong quá trình đi kiện mà ai nghe qua cũng cảm thấy chua xót.
Số là có lần, anh được luật sư đại diện cho phía công ty bị kiện - “bật mí” rằng vị luật sư này được công ty nước ngoài thuê với giá 15 triệu đồng mà không cần thắng kiện, chỉ cần tìm mọi cách trì hoãn thời gian tòa đem vụ án ra xét xử. Bởi vì, trong thời gian trì hoãn được, chủ DN có thể tìm cách “chạy án”, khiến vụ án phải “chìm xuồng” hoặc nếu thấy không ổn thì vơ vét, chiếm đoạt thêm một số tiền nữa của công nhân (CN) rồi “cao chạy, xa bay”.
Thực tế, từ trước đến nay, trong lịch sử của những DN nợ BHXH triền miên, chưa có DN nào lo sợ hành vi thiếu nợ sẽ bị chính CN của mình phản ứng bằng cách đồng loạt khiếu kiện, đồng loạt bỏ việc vĩnh viễn dù họ là đối tượng chịu thiệt thòi nhiều nhất từ hành vi trái pháp luật này của chủ DN.
Thậm chí, khi thấy DN làm ăn quá bê bối, không có khả năng khắc phục hậu quả, nhiều cán bộ công đoàn đã chân thành khuyên CN nên mạnh dạn dứt khỏi DN đó và tìm việc mới ở những DN khác đàng hoàng hơn, CN vẫn không dám bỏ việc. Ngoài tâm lý ngại thay đổi, lý do lớn nhất khiến họ không dám hành xử với vị thế của một người nắm “kèo trên” chính là do phần đông đều không có trình độ, không đủ tay nghề để có thể xin được việc làm ở những nơi khác nếu chẳng may bị đẩy ra đường khi tuổi trẻ, sức khỏe không còn.
DN bao giờ cũng cần người lao động (NLĐ) để tồn tại và phát triển. Nếu NLĐ Việt Nam đủ tự tin, đủ bản lĩnh để “tẩy chay” những DN “đen” kiểu như vừa kể trên thì không sớm thì muộn, những DN này cũng sẽ bị đào thải. Nhiều DN khi hoạt động ở nước sở tại, ngoài việc phải trả lương cao cho CN sở tại, còn phải tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật, đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp cho CN.
Thế nhưng, khi sang Việt Nam, họ không chỉ thuê được nhân công giá rẻ mà còn tìm đủ mọi cách để bóc lột CN, xâm phạm quyền và lợi ích cơ bản của CN. Khoan xét đến chuyện pháp luật nước ta chưa theo kịp thực tế, chính mặt bằng chung còn quá thấp của đội ngũ CNLĐ Việt Nam đã khiến chủ DN, đặc biệt là chủ DN nước ngoài, chưa bao giờ thật sự xem NLĐ là vốn quý cần phải trân trọng.
Từ trước đến nay, Đảng và Nhà Nước ta luôn chú trọng đến việc chăm lo cho đội ngũ CNLĐ. Bên cạnh sự chăm lo về đời sống vật chất còn có những biện pháp để nâng cao đời sống tinh thần, bồi dưỡng kiến thức, trình độ tay nghề, trình độ văn hóa. Thế nhưng, xét cho cùng, tất cả những biện pháp kể trên đều là những tác động mang tính trợ lực. Điều quan trọng hơn cả vẫn là phần “nội công” - nói cách khác là sự tự nhận thức của bản thân mỗi NLĐ để thay đổi cách nghĩ, từ đó thay đổi hành vi.
Một khi từng CN đều ý thức được mình còn yếu về tay nghề, còn thiếu về trình độ văn hóa, kiến thức pháp luật và cả kiến thức chính trị thì chính họ sẽ có nhu cầu để làm đầy những lỗ hổng đó. Đến chừng đó, những biện pháp hỗ trợ, giáo dục từ bên ngoài mới thật sự phát huy tác dụng. Đây mới là động lực, là yếu tố tối quan trọng quyết định sự thành bại của việc xây dựng giai cấp CN Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
MAI HƯƠNG