Ông Hằng

Ông Hằng

Thỉnh thoảng trong câu chuyện của mẹ với mấy cậu, mấy dì, tôi lại nghe nhắc tới tên ông. Mẹ gọi ông bằng cậu – cậu Hằng. Mãi sau này tôi mới biết, mẹ của ông và mẹ của bà ngoại tôi là hai chị em. Vậy nhưng ông với bà lại thân nhau như chị em ruột…

Ông Hằng ảnh 1

Họ hàng đông, tôi không mấy để ý đến ông, thế nhưng cái tên “ông cậu Hằng” thì dường như đã nằm trong tiềm thức của tôi từ lúc nào. Đôi khi tôi tự hỏi, trông ông ra sao? Mình đã gặp ông lần nào chưa? Ấn tượng về ông lại bắt nguồn từ những mẩu chuyện ở quê. Những mẩu chuyện gợi lên trong tôi hình ảnh một ông già độc tài, gia trưởng. Nào là việc mấy lần ông giơ cây ba toong lên dọa phang cô em út đã trên 50 tuổi  và đang là bác sĩ tại một bệnh viện của tỉnh vì tội dám cãi lại  ông.

Nào là việc ông rút cây chốt cửa và ném bà (vợ ông) đã ngoài 70, đến vỡ đầu vì tội nghe lời con gái lên chùa cúng bái, bỏ ông ở nhà một mình. Nào là việc ông viết đơn gửi lên phường nơi thường trú của con cậu trai độc nhất của ông (hiện đang là giám đốc một công ty lớn ở Hà Nội) đòi từ con “vì tội chiều không chịu về nhà ăn cơm mà đi nhậu cùng bạn bè, khi về cũng không lên gặp ông để chào”. Gửi lên phường chưa đã, ông còn gặp đội phát thanh ở quê để nhờ phát cho cả làng cả xã nghe cái bức đơn ấy…

Rồi bà ngọai tôi mất, đám tang bà được tổ chức với sự hiện diện của đầy đủ con cháu. Một đám tang quê với nhiều nghi lễ, nhiều tiếng khóc. Khóc kèm với than. Đưa bà hôm trước, chiều hôm sau một thanh niên chở ông già tay cầm cây ba toong chạy vào nhà bà tôi. Gương mặt ông già có vẻ quen quen nhưng tôi không nhớ là ai.

Đưa cây ba toong cho tôi, ông nói: “Cháu đốt mấy nén nhang để ông thắp cho bà”. Đứng trước bàn thờ bà tôi, ông khóc, nước mắt ràn rụa trên gương mặt già nua với những lời nói nghẹn ngào: “Chị ơi, em có lỗi với chị, em không đưa chị ra đồng được. Khi sống chị thường dặn em: giờ yếu rồi, chân cẳng không khỏe đừng đi lại nhiều. Chị đừng trách em, chị nhé, em đến tạ lỗi với chị đây…”.

Ông già ấy chính là ông Hằng. Ông kể, đêm qua, mơ thấy bà tôi về và trách ông sao không đưa bà ra tận mộ. Sáng sớm thức dậy, ông vội kêu đứa cháu chở ông ra mộ bà. Không biết có phải vì những giọt nước mắt của ông không mà tôi bắt đầu chú ý đến ông. Cũng vì sự chú ý này, tôi biết thêm nhiều chuyện về ông. Những câu chuyện làm tôi thay đổi hoàn toàn nhận xét trước đây.

Hóa ra ông là con người đầy tình cảm. Ông thương và lo cho bà tôi còn hơn cả những người chị em ruột của ông. Điều này không hẳn vì những gắn bó từ tuổi ấu thơ ở miền quê nghèo, nhiều thiên tai bão lũ, vì ông chứng kiến bà tôi tần tảo, lam lũ cả cuộc đời, mà đó còn là vì một lời hứa. Mẹ tôi kể, trước lúc lâm chung, cụ bà sinh ra ông Hằng đã dặn ông: “Mẹ muốn con thương con Duyên (tên bà ngọai tôi), nó khổ từ bé…”.

Ông Hằng có tính lo xa. Ông chuẩn bị cho mình và người thân những khu đất để có chỗ khi nằm xuống. Bà tôi cũng được ông dành cho một miếng đất như thế. Người em gái mà nhiều lần ông vác gậy đuổi đi kể rằng: “Tuy thế nhưng chỉ dăm ba bữa không thấy, ông lại điện thoại hỏi: Cô giận tôi thật à, cô không về thăm tôi à?”. Ném cây chốt cửa vào vợ đến vỡ đầu, nhưng ai tới thăm bà nói tại vấp ngã, ông liền nhận ngay: “tại tôi ném bà ấy đấy”. Ông sợ bị bỏ rơi, ông sợ cô đơn. Hóa ra đó là lý do, ông gây nên nhiều chuyện song không ai ghét bỏ ông. Việc giận con cũng vậy, bỏ về quê một thời gian, ông lại ra Hà Nội vì không chịu được nỗi nhớ con, nhớ cháu.

Trong vô số chuyện về ông thì chuyện ngôi mộ giả bà vợ đầu  của ông khiến tôi nhớ mãi. Trong một lần ra thăm khu mộ dòng họ, mẹ tôi chỉ 3 ngôi mộ xây kim tĩnh và nói, cái ở giữa là của ông Hằng, hai cái hai bên là của hai bà vợ ông. Một cái ông dành cho bà vợ hiện tại vẫn còn sống, một cái đã có tên tuổi là bà vợ đầu của ông – bà Nguyễn Thị Quế. Bà Quế hy sinh trong chiến tranh. Ngôi mộ này của bà là mộ giả… 
 
Ông Hằng và bà Quế cưới nhau năm Quý Tỵ, năm ấy ông mới 16 và bà 20. Ông khoe, đáng ra ông cưới bà trước đó 3 năm, nhưng vì nhà bà có tang nên đành dời lại. Một năm sau ngày cưới, bà cùng thanh niên trong làng lên đường đi dân công hỏa tuyến phục vụ chiến dịch Điện Biên. Vừa đi được 3-4 tháng thì ở quê ông nhận được tin bà hy sinh. Ông kể “ông thương bà chết khi còn quá trẻ”.

50 năm sau, ông mới nhận được tấm bằng Tổ quốc ghi công, công nhận bà là liệt sĩ. Và cũng trong chừng ấy năm, lòng ông không nguôi ngoai ý định lên Điện Biên để tìm bà. Và dù là người không hề mê tín, ông cũng đã làm công việc đi gọi hồn cho bà. Ông bảo, bà nói với ông: “Ông đừng đi, ông không thể tìm thấy tôi đâu, chỗ ngày xưa người ta chôn tôi, bom đạn đã cày xéo không biết bao lần, giờ xương cốt tôi chẳng còn gì cả…”.

Nhớ về bà, ông chỉ còn biết làm thơ. Những câu thơ làm tôi ngậm ngùi: “Mình ơi, mùa xuân ấy mình đi — Tháng giêng một chín năm tư là điểm mốc — Mình đi — Tôi đã sống những ngày đơn độc — Để nhớ, để thương, để mong đợi, ngóng trông… — Mình ơi, dẫu vẫn biết mình đã hòa trong hồn thiêng sông núi — Cõi vĩnh hằng dù xa — Cũng có ngày tái hợp trùng phùng…”

HÀ GIANG

Tin cùng chuyên mục