Phòng và chữa trị viêm gan siêu vi B

Phòng và chữa trị viêm gan siêu vi B

Theo các số liệu điều tra về dịch tễ học, số người bị nhiễm siêu vi viêm gan B (SVVG B) ở nước ta chiếm từ 10% đến 20% dân số (trung bình 15%). Như vậy cả nước có xấp xỉ 12 triệu người đang nhiễm. Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với GS.BS Phạm Hoàng Phiệt, Chủ tịch Hội Gan mật TPHCM, về việc phòng và chữa trị căn bệnh này.

Phòng và chữa trị viêm gan siêu vi B ảnh 1

GS.BS Phạm Hoàng Phiệt.

- Thưa GS, con số 12 triệu người bị nhiễm SVVG B tại Việt Nam là rất lớn. Việc nhận thức và điều trị căn bệnh này hiện nay ra sao?

 - Con số đó thực sự làm chúng ta phải quan tâm hơn nữa đến việc phòng chống các bệnh lý liên quan đến nhiễm SVVG B, một bệnh có thể tiêm phòng rất hiệu quả nếu chưa nhiễm hoặc theo dõi để khi bị nhiễm mà có chỉ định điều trị thì điều trị kịp thời. Song hiện nay cả trong phòng và điều trị bệnh vẫn còn nhiều bất cập. Việc tuyên truyền tiêm phòng và dự phòng lây lan còn rời rạc, chưa thành phong trào sâu rộng (nếu so với HIV). Việc điều trị cũng chưa được tuân thủ và kiểm soát chặt chẽ. Nếu không sớm giải quyết những bất cập trên, chúng ta sẽ phải trả giá đắt.

- Với những trường hợp nhiễm SVVG B, bệnh nhân nên điều trị như thế nào để có kết quả tốt nhất? Phương pháp điều trị chủ yếu hiện nay là gì?

- Với những người đã nhiễm SVVG B, nếu đã tự lành thì sẽ có miễn dịch bảo vệ còn nếu trở thành nhiễm mạn tính thì tiêm phòng không còn tác dụng nữa. Đối với một số người nhiễm mạn tính (khoảng 25%) có tình trạng viêm gan hoạt động cần điều trị thì hiện đã có các thuốc đặc hiệu. Thuốc điều trị đặc hiệu hiện nay có 2 loại là thuốc uống và thuốc tiêm.

Thuốc uống hiện có 3 loại đã được Cơ quan Quản lý Thực - Dược Hoa Kỳ (FDA) chấp nhận cho sử dụng là Lamivudine, Adefovir và Entecavir. Song Lamivudine dễ bị kháng thuốc (14%-20% sau một năm và có thể tăng lên 60%-70% sau 5 năm), còn Entecavir mới được sử dụng gần đây, sau 2 năm chưa phát hiện đề kháng đối với những trường hợp mới điều trị. Nếu bệnh nhân đã điều trị và kháng với Lamivudine thì tỷ lệ kháng khoảng 1,6%. Adefovir có tác dụng ức chế SVVG B chậm hơn song vẫn hiệu quả với siêu vi đã kháng Lamivudine.

Các bệnh nhân mới sau khi điều trị Adefovir có tỷ lệ kháng khoảng 1,6% và kháng 3% sau 2 năm. Kinh nghiệm điều trị cho thấy, nếu ngưng thuốc sớm ngay sau khi đã sạch siêu vi trong máu hoặc chuyển đổi huyết thanh từ HBeAg dương tính sang anti HBe dương tính thì tỷ lệ tái phát lên đến 70% hay 90%, vì vậy người ta phải kéo dài thêm thời gian điều trị trên 6 tháng là tối thiểu (có chuyên gia cho rằng 12 tháng tốt hơn).

Với loại thuốc tiêm Interferon, mà hiện nay dùng dưới dạng tác dụng kéo dài là PEG Interferon, chỉ cần tiêm 1 mũi mỗi tuần. Đây là loại thuốc vừa ức chế siêu vi, vừa tăng cường nhiễm dịch nhưng đắt tiền và nhiều tác dụng phụ (khoảng 20% phải ngưng điều trị). Thuốc được dùng trong 12 tháng (đang nghiên cứu hiệu quả khi dùng 6 tháng) nếu đạt kết quả 80% là bền vững.

- Việc phòng bệnh SVVG B với mọi người hẳn là điều quan trọng. Đối với trẻ em, chúng ta nên làm như thế nào để những thế hệ tương lai không bị mắc phải chứng bệnh nguy hiểm này?

 - Cho tới trước thời điểm vaccine viêm gan B được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng trên toàn quốc (2003), nguyên nhân dẫn đến việc nhiễm SVVG B mạn tính ở Việt Nam cũng như một số nước ở vùng Đông Nam Á là sự lây truyền từ mẹ sang con thời kỳ chu sinh (khoảng 25%) và bị nhiễm ở tuổi thiếu nhi (khoảng 50%), còn lại là do các nguyên nhân khác. Đặc điểm này khác với các nước thuộc Bắc Mỹ và Tây - Bắc Âu. Ở Việt Nam, khoảng 10% bà mẹ mang thai đang nhiễm SVVG B mạn tính. Con của các bà mẹ đang nhiễm này có nguy cơ bị nhiễm SVVG B cao (khoảng 40%) nếu không được chủng ngừa mũi vaccine đầu tiên ngay trong ngày mới sinh.

Đặc điểm của trẻ bị nhiễm SVVG B ở thời kỳ chu sinh này là có trên 95% sẽ nhiễm mạn tính. Trái lại, nếu bị nhiễm ở tuổi trưởng thành thì chỉ 5% trở thành mạn tính và 95% sẽ tự lành bệnh. Điều này nói lên rằng việc tiêm phòng viêm gan B ở trẻ nhỏ là vô cùng quan trọng để tránh bị nhiễm mạn tính. Đường lây truyền của SVVG B cũng giống như HIV và SVVG C, đó là qua máu và các sản phẩm từ máu, qua quan hệ tình dục và truyền từ mẹ sang con.

Do SVVG B tồn tại bền vững trong môi trường hơn nên các chuyên gia ước tính nguy cơ lây truyền cao gấp 100 lần so với HIV. Nếu chúng ta tuân thủ các nguyên tắc phòng lây lan của HIV thì sẽ tránh được lây lan của SVVG B và SGGV C- hiện nay chưa có vaccine phòng HIV và SVVG C.

- Xin cảm ơn giáo sư.

KIỀU HỒNG (thực hiện) 
 

Tin cùng chuyên mục