Dự án phát triển kinh tế nông hộ vùng đệm U Minh Thượng

Thành công nhưng chưa thắng lớn

Đến nay, dự án “Phát triển kinh tế nông hộ vùng đệm U Minh Thượng” (PTKTNHVĐUMT) đi vào cuộc sống người dân vùng rừng quốc gia đã tròn 8 năm (6-1999 - 6-2007). Đây là dự án xóa đói giảm nghèo (XĐGN) lớn nhất đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cả về quy mô hạng mục, vốn đầu tư, phạm vi triển khai, số người thụ hưởng... Nó “lớn” về cả những ý kiến tranh cãi ngay từ ngày đầu hình thành ý tưởng, lúc quyết định triển khai và đến bây giờ vẫn trái ngược trong đánh giá thành công và thất bại...

Ở nơi nghèo nhất vùng bán đảo Cà Mau

Trúng mùa lúa ở vùng đệm U Minh Thượng.

Dự án PTKTNHVĐUMT được triển khai vào tháng 6-1999, lúc cái nghèo bao trùm lên các hộ dân vùng rừng lịch sử nổi tiếng nhất ĐBSCL: 2.100/3.526 hộ thuộc VĐUMT là hộ “nghèo có sổ”, 1.426 hộ còn lại thì “giáp ranh nghèo”. Đến nay, trong vùng dự án đã có trên 1.500ha tràm, 300ha khóm, 510ha mía, 552ha rau màu, 603ha lúa, 2.234 ha mặt nước nuôi thủy sản… Năm 1999, nơi đây có 67% hộ đói nghèo, bây giờ đã xóa hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống dưới 10%. Diện tích tràm giảm gần một nửa so với cách nay 3 năm do giá tràm rớt thê thảm nhưng diện tích lúa, rau, màu tăng lên rõ rệt. Điều này phù hợp với ý kiến chỉ đạo của Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn Bùi Bá Bổng ngày 8-4-2004, nhân chuyến đi kiểm tra tình hình phòng chống cháy rừng ở Vườn quốc gia U Minh Thượng. Thứ trưởng ghi nhận hiệu quả XĐGN của dự án nhưng cũng lưu ý Kiên Giang nên điều chỉnh mô hình lúa - tràm – cá cho phù hợp với diễn biến sản xuất, vừa bảo đảm phát triển nhanh kinh tế vừa bảo vệ an toàn sinh thái cho vườn quốc gia (VQG).

8 năm trước, UMT không chỉ là rừng đầm lầy ngập nước quý hiếm nhất nước ta, là “Bảo tàng lịch sử” của vùng Tây Nam bộ, mà sống tựa vào rừng còn có hơn 18.000 người dân. Thời kháng chiến, bom đạn ác liệt, sự tổn thất của đất và người UMT rất lớn. 20 năm sau ngày hòa bình, người vùng rừng vẫn nghèo. 2 xã ven rừng là Minh Thuận (Vĩnh Thuận) và An Minh Bắc (An Minh) có 2.100/3.526 hộ nằm trong danh sách cứu đói thường xuyên. Đói, họ nhìn vào “rừng vàng” để kiếm sống và rừng liên tục cháy. Mùa khô 1998, số hộ đói tăng mạnh. Lý do: rừng bị “khóa” chặt quá! tỉnh phải chi hàng tỷ đồng cứu trợ khẩn cấp. VĐUMT không chỉ là “ổ đói nghèo” lớn nhất Kiên Giang mà còn được “khoanh” là nơi nghèo nhất vùng bán đảo Cà Mau!

Dự án PTKTNHVĐUMT được triển khai trên tổng diện tích 14.920ha, 3.526 hộ dân (18.852 nhân khẩu). Mỗi hộ được giao 4 ha đất, vay vốn làm vuông bao liên hoàn với quy hoạch thủy lợi tổng thể, khép kín, sản xuất theo mô hình: Tràm (tạo vành đai phòng hộ cho VQG) + 1ha nuôi thủy sản nước ngọt + 2ha lúa, màu… Dự án PTKTNHVĐUMT là dự án XĐGN lớn nhất ĐBSCL gồm 9 tiểu dự án, phần lớn là các công trình cơ sở hạ tầng nhằm đem đến cho hộ nghèo cơ hội xóa nghèo, biến nơi đây thành một điểm đến của du khách trong nước và quốc tế khi về thăm rừng UMT.

Người thụ hưởng dự án nói: Hết sợ nghèo rồi!

Đến nay, thu nhập bình quân 12 triệu đồng/hộ/năm, 95% hộ có phương tiện nghe nhìn, 80% hộ cất được nhà bán kiên cố, nhà kê tán. Nông dân Cao Hà Thủy (kinh 8, ấp Minh Dũng, xã Minh Thuận, huyện Vĩnh Thuận) cho biết: “Gia đình tôi rất nghèo. Tôi là một trong 48 chủ hộ phản đối quyết liệt dự án vì thấy nó “phiêu lưu” làm mình mang nợ, bị giảm diện tích do đào vuông bao. Nhưng chỉ sau 4 năm, tôi đã tích lũy đủ sức trả vốn vay ngân hàng”. Nông dân Lại Thị Xuân Trường (kinh 3, ấp Công Sự, xã An Minh Bắc, huyện An Minh) kể: “Gia đình tui có 7 người, từ 1999 về trước, năm nào cũng thiếu ăn từ 3-6 tháng. Thấy người ta bỏ đất đi mần mướn, tui rầu vì con nhỏ, mình yếu nhớt ai thèm mướn! Khi xã vận động dự án, tui mau mắn nghe nhưng lúc ký giấy vay tiền tui run. Vừa sợ nợ vừa hổng hiểu sao nhà nước dám cho người nghèo vay hàng chục triệu đồng. Nếu nói lấy đất thế chấp thì hổng phải, vì đất mình cũng do nhà nước cấp. Năm đầu tiên sản xuất theo mô hình nông-lâm-ngư kết hợp, gia đình tui lãi 27,7 triệu; năm 2001 lãi 36 triệu; năm 2002 lãi 42,5 triệu đồng. Hết sợ nghèo rồi!”.

Tôi về VĐUMT trong cái “hạn bà chằn” rực lửa. Ở khu rừng tràm tái sinh (sau trận cháy năm 2002), tràm lên được 4-6m rồi, chân tràm nhúng trong nước thế mà từng chiếc lá tràm khô cong như đôi mắt trẻ con ngước nhìn ông mặt trời đổ lửa. Cái nóng bức làm tôi và các bạn đồng nghiệp Kiên Giang có cảm giác kiệt sức! Chúng tôi tạt vào nhà anh chị Bùi Văn Sơn – Nguyễn Thị Niên ở ấp Công Sự, xã An Minh Bắc, huyện An Minh. Vợ anh cho chúng tôi uống nước và kể: “Năm 1992 về đây, hai vợ chồng, 4 đứa con ốm như lúa lép. Mùa khô, nắng vàng con mắt. Mùa mưa co chân ngồi trên chõng tre mà khóc. Con đường mấy cô chú mới đi đó, hồi xưa hổng có. Nói chung, ở VĐUMT hổng có đường đi. Cứ phạt ngang mà lủi tới. Năm 1999, khi ông Mười Đởm (nguyên giám đốc VQGUMT, Anh hùng lao động) tới vận động bà con tham gia dự án, gia đình tui cự. Tại sao cự á? Tui sợ nợ! Đói mà nợ chắc chết. Người khác thì đòi nhà nước đưa tiền cho họ tự mần ăn hổng quy hoạch gì ráo. Cuối cùng, rồi cũng phải chịu bị ép vô dự án”.

Phóng viên Báo SGGP (bìa phải) với người dân U Minh Thượng.

- Bây giờ nghĩ lại chuyện bị ép, chị có thấy còn ấm ức không?

- Hông! Thấy biết ơn nhà nước lắm. Đường sá, cầu kỳ ngon dữ trời, mùa nào đi cũng bảnh. Gia đình tui đã có dư chút chút. Ba đứa con lập gia đình sống quanh đây, đứa nào cũng ấm. Nếu tràm không rớt giá thì còn ngon hơn. Nhưng mình có “nền” rồi, xoay xở dư ăn.

- Vậy tiền vay có tính trả dứt không?

- Nợ nhà nước hổng trả sao được. Nhưng c...h...ư...a....vì nhiều hộ khá hơn mình chầm ê, mình lẹ làng họ... ghét!

Chị Nguyễn Thị Manh ở kinh 5, ấp Minh Tiến, trẻ hơn tuổi 60 của mình rất nhiều. Trời nắng đã sợ, vì nể chị mà chúng tôi phải cùng chị hết chui vô bụi mía mật cho lá mía cứa rát bỏng, lại lòn vô vườn mận, mãng cầu xiêm kiến đỏ lòm. Đối với chị cái gì của UMT cũng “nhất đẳng”. Chị nói: “Hai đứa tui nghèo thấy bà cố mới dắt vô đây, vừa có chút thảnh thơi thì ảnh mất. Cách đây 3 năm tui chắp nối với anh Du Văn Hùng để chăm sóc nhau lúc tuổi già. Con hai bên đều lớn, cuộc sống ổn hết. Tài sản ai nấy giữ, hổng nhập chung. Tui mần 5 công lúa, 5 công mía, 1 công vườn, sống khỏe. Mấy em rảnh về nhà tui chơi, ở bao lâu cũng được. Tui nói thiệt, bây giờ ở xứ này chỉ có hai hạng nghèo: làm biếng nên nghèo và thích than nghèo – than riết thành tật”.

Rời nhà chị, chúng tôi vác 2 cây mía, một túi mận, 4 trái mãng cầu xiêm đi liêu xiêu qua hai ba cây cầu khỉ rồi chợt nghe tiếng la ơi ới, nhìn lui thấy chị bươn bả vác buồng chuối chạy theo. Chị thở hào hển: “Cho nữa nè, chín cây đó!”. Đem được quà của chị ra đường lộ đón xe chúng tôi cũng thở trối chết. Nhưng thương chị lắm!

Khó khăn tiếp bước khó khăn!

3 năm đầu, chỉ riêng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để dân làm hồ sơ vay vốn đã rối vì vấp vào những người “4 không”: không giấy khai sinh; không CMND; không giấy đăng ký kết hôn; không hộ khẩu! Dự án PTKTNHVĐUMT đã đem cơ hội thoát nghèo cho các nông hộ, tạo ra những cơ sở hạ tầng thiết yếu. Trong đó hệ thống giao thông của vùng đệm được đầu tư trên 70 tỷ đồng, gồm đường đê trải nhựa 60km, đường nối QL 63 vào khu bảo tồn thiên nhiên, mạng lưới cầu bê tông, kinh rạch, cống bọng được lắp đặt, mở rộng, khơi sâu để giữ nước cho rừng và vận chuyển nông sản... Ông Trương Quốc Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang, khẳng định: “Xây dựng VĐUMT thành một vùng KT-XH phát triển bền vững, nâng cao đời sống mọi mặt cho nhân dân là trách nhiệm, đạo lý đền ơn đáp nghĩa đối với nhân dân vùng căn cứ kháng chiến từng chịu nhiều mất mát hy sinh…”.

Dự án PTKTNHVĐUMT đã tiếp sức nhà nông bằng sự đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh và lâm sinh; cho vay vốn làm thủy lợi, vốn sản xuất; tập huấn, chuyển giao KHKT… Khó khăn chồng chất khó khăn do thị trường nông sản không ổn định, đất đai rộng lớn nhưng chất lượng nông sản VĐUMT chưa cao và sản xuất manh mún. Quy hoạch tổng thể mang tính khoa học vào thời điểm năm 1999 (tràm – lúa - cá) đã không còn phù hợp nhưng một quy hoạch mới “động” hơn, khả thi hơn chưa hề được xác lập mà chủ yếu do bà con nông dân “xoay xở” bằng cách “nhìn ngang ngó dọc” đầy tự phát, thiếu căn cơ. Thách thức lớn nhất của dự án PTKTNHVĐUMT nhiều năm qua còn ở thái độ trông chờ, ỷ lại của không ít nông hộ: Đó là những hộ không thể thoát nghèo vì thiếu quyết tâm lao động, vuông bao thi công xong rồi vẫn không ban liếp sản xuất, sản xuất không hết diện tích, cầm cố, sang nhượng trái phép; là những hộ sản xuất hiệu quả, có tích lũy nhưng lẩn tránh việc thanh toán nợ vay với hy vọng lâu ngày sẽ được nhà nước xóa nợ...

Nếu không có “đỉnh cao mùa khô đói kém” năm 1998, sẽ không có dự án PTKTNHVĐUMT đầy tính quyết đoán triển khai vào mùa khô 1999, không có đề án công nghiệp hóa, hiện đại hóa VĐUMT triển khai vào mùa mưa 2003, càng không xoay chuyển nổi tỷ lệ đói nghèo từ 67% giảm xuống dưới 10% trong 8 năm như bây giờ! Hàng trăm tỷ đồng đổ vào vùng rừng một thời đầy máu và nước mắt quân dân Tây Nam bộ đã không hề sai lầm. Dự án PTKTNHVĐUMT thành công nhưng chưa thắng lớn như mong đợi. Các nỗ lực mang hàm lượng chất xám cao cho VĐUMT có vẻ như chững lại, thiếu năng nổ, quyết liệt như 5 năm đầu. 8 năm không phải là thời gian dài nhưng đủ để Kiên Giang rút ra những kết luận mang giá trị phân tích – tổng hợp cao để có những kế hoạch mới đầy quyết tâm cho vùng đất anh hùng này nhanh chóng phồn thịnh.

Nguyễn Thị Kỳ

Các tin, bài viết khác

Ảnh

Hành trình bảo tồn di sản Áo dài

Lễ hội Áo dài đã được TPHCM khởi xướng từ năm 2014 như một sự kiện văn hóa, du lịch tiêu biểu của TPHCM nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, cũng như thu hút du khách và quảng bá hình ảnh TPHCM.

Video

Điểm tin SGGP Online ngày 24-10-2020

Tạm cấp 500 tỷ đồng hỗ trợ khẩn cấp các tỉnh miền Trung; Quảng Trị: Hướng Việt tan hoang sau lũ, 2 lần thả hàng cứu trợ khẩn cấp bằng trực thăng; Miễn giảm học phí cho sinh viên vùng lũ; Phòng ngừa dịch bệnh sau mưa lũ… là những nội dung đáng chú ý có trong Điểm tin SGGP Online ngày 24-10-2020.

Giao lưu trực tuyến