Con đường trở về vẫn là con đường nhựa rất hẹp thuở nào, vẫn làng xóm quanh co nằm êm đềm ven bờ kinh nước đục ngầu phù sa bên hàng cây liêu xiêu lay động trong ngọn gió chiều. Con đường ấy đã chuyên chở một thời tuổi nhỏ của biết bao đứa con vùng đất núi.
Những đứa con đi xa, lâu rồi không trở lại, hay là có ghé lại cũng là những tình cờ thoáng qua với công việc tất bật, với những chuỗi hành trình nối tiếp, để đến nỗi không có khoảng lặng thời gian nào để nhớ, để nhận ra rằng mình dường như đã bị chặt đứt khỏi quê hương từ lâu lắm, dẫu rằng đi đâu cũng nhận mình là đứa con của An Giang!! Dường như đó còn là nỗi ray rứt lâm thâm làm hằn nhớ những điều mà trước nay dường như mình đã quên, như nhớ gương mặt quàu quạu của nhà văn Mai Văn Tạo khi rủ rê đứa con của vùng đất núi trở lại cùng ông thăm lại núi Sam….
Có gì quan trọng đâu, chỉ là những chuyến trở về như bao chuyến trở về, không được lần này thì còn có nhiều dịp trong đời. Nên cũng đủ cho một cái cười xòa khi bị ông gọi tên đứa mất gốc ra chì chiết.
Cũng không hiểu nổi vì sao trong chuyến trở lại quê hương lần này tôi lại mang tâm trạng của người dường như xa xôi lắm đối với quê hương mình. Từ Sài Gòn đến Châu Đốc có là bao xa, vậy mà vút một cái có người đi cứ như là mất hút, cứ như là không còn nơi chốn để trở về, như là không còn có ai níu kéo bước chân mình…
Có rất nhiều điều để nhớ và đó chính là vùng ký ức của tuổi thơ, là những kỷ niệm đậm sâu đến nỗi mình chỉ muốn tìm thấy nó trong những giấc mơ, trong những gợi nhớ rất đẹp của riêng mình… Bởi làm sao mà quên được con đường nhỏ lô nhô mái ngói rêu phong, làm sao quên dòng kênh nhỏ sau nhà ngó qua cánh đồng bát ngát. Dòng kênh đã chở biết bao kỷ niệm thời thơ trẻ với chiếc xuồng con lắt lẻo khi con nước nổi tràn về, để cánh đồng vàng của những ngày thênh thang chạy nhảy cùng chiếc diều no gió mới đó đã biến thành biển nước mênh mông.
Không nhớ nổi khi nào, tuổi thơ tôi đã lớn lên cùng những thay đổi hết sức bình thường của thiên nhiên như vậy, nên với tôi, căn nhà cứ cao dần theo mực nước là chuyện quá đỗi bình thường. Mùa nước nổi, nhà nào cũng có chiếc cầu bắt ngang dọc trong từng ngõ ngách ngay ở trong nhà mình và mọi sinh hoạt vẫn bình thường theo mực nước ngày càng dâng cao. Mỗi ngày, chiếc cột giữa nhà được gạch bằng vệt phấn để đo mức nước, và đó là cái thú tôi giành độc quyền cho mình, để được sáng sáng kêu lên như reo với má: “Bữa nay nước lên tới 5 phân má ơi”. Má ừ nghe rầu rĩ, còn bọn trẻ cứ vô tư hớt cá lòng tong bơi thung thăng trong chính gian buồng ngủ nhà mình với niềm vui khó tả.
Mùa nước nổi, có gì đâu là lạ, bởi tháng 9 là mùa tựu trường thì tháng 10 học trò đã được nghỉ học vì nước đã leo đến cửa sổ của những mái tranh nghèo. Má đi dạy học ở ngôi trường làng mái lá còn tôi đi học ở trường quận khang trang nên học trò của má bao giờ nghỉ học cũng sớm hơn tôi. Mỗi ngày đi học, tôi được học trò của má đưa đón bằng xuồng như một cô tiểu thư thứ thiệt. Ừ đúng, bởi đi đâu tôi cũng vênh cái mặt lên bởi những tiếng xì xào ngưỡng mộ: “Con cô giáo Hai”. Ôi, cái vùng đất nghèo ngày ấy sao mà tình nghĩa ấm nồng đến vậy, một người bệnh, cả xóm nháo nhác, một đứa con nít lên cơn động kinh là cả làng kéo tới.
Đồng lương cô giáo làng của má vẫn có thể sống phong lưu nuôi ba đứa con gái nhỏ, bởi mùa nào thức ấy, bao giờ trong nhà cũng đầy ắp trái cây, cá mắm. Cả tuổi thơ của tôi đã lênh đênh trên những cánh đồng nước nổi với những buổi tan học không chịu về nhà mà lang thang trên chiếc xuồng nhỏ, hái đầy bông điên điển và nằm dài giữa nước trời bao la hát nghêu ngao cùng cô bạn nhỏ.
Đi học mà lúc nào trên xuồng chúng tôi cũng cụ bị sẵn cần câu và mồi, có lúc say sưa theo bầy cá rô mập ú đến nỗi trời sập tối lúc nào không hay, má phải cho người đi kiếm kêu hú dậy cả cánh đồng. Bị đòn một trận nhớ đời để nhớ mãi không quên gương mặt thất thần của má giữa đồng nước mênh mông. Nhớ làm sao diết da những cây cầu khỉ lắt lẻo bắt trên con đường ngập nước và những đứa con nít cứ thi nhau chạy đua trên đó, để chiều nào về nhà quần áo cũng ướt mèm…
Nhớ làm sao những ngày bé tí lon ton leo núi Sam đi chùa với ngoại, nhớ cái am Bạch Vân với những nấc thang bằng đá chập chùng lẫn trong những cây hoa dại có những hạt cườm màu đỏ vân đen óng ánh có thể kết thành những vòng chuỗi đẹp ngất ngây… Nhớ hình bóng con bé con quỳ trước chánh điện Bà Chúa xứ mà hồn vía để đi đâu, bởi chẳng biết cầu xin gì, chỉ như một thói quen không biết tự lúc nào…
Và những cái tên dường như đã lẫn vào trong huyết quản, như tiếng gọi thân thương gợi nhớ tất cả những tình cảm xa xưa, những Lăng ông Thoại Ngọc Hầu, Chùa Phật thầy Tây An, Chùa Hang, Bến Đá, đường Núi, kinh Vĩnh Tế và con đường… Cử Trị như nằm ở đâu đó trong tiềm thức, lúc nào cũng chực ứ tràn… Châu Đốc, thị xã ven sông, Châu Đốc của một thời tuổi nhỏ, với căn nhà ngói rộng 4 gian đã từng bị phong tỏa nhiều ngày và treo bảng “Nhà Việt Cộng”.
Châu Đốc với những kỷ niệm của những ngày dài xách giỏ đi thăm nuôi những người tù chưa đến tuổi thành niên… trong gia đình. Và bây giờ khi trở lại vẫn còn đó hình bóng như in của những ngày tháng cũ…
Tháng 8, con nước đang lên và con đường về quê vẫn vậy, nhưng cánh đồng vẫn mượt mà vụ lúa hè-thu. Người nông dân không còn nỗi lo cháy lòng đứng ngồi theo con nước chảy tràn về bởi hệ thống đê bao ngang dọc đã che chắn cho những cánh đồng lúa chín. Bây giờ, nông dân có thể làm 3 vụ lúa trong năm, đời sống khá lên thấy rõ, những ngôi nhà ngói đỏ nhấp nhô thay cho những mái tranh nghèo…
Cái lợi trước mắt đã thấy rõ, nhưng cũng bắt đầu một nỗi lo vô hạn về mặt sinh thái. Chúng ta đã bắt thiên nhiên phải theo ý mình, nhưng hệ quả của nó cũng không phải là nhỏ. Mỗi năm con nước nổi đã mang về cho đất đầy ứ phù sa và bạt ngàn tôm cá. Bây giờ thì đất phải sống bằng phân hóa học và đang có nguy cơ bị nhiễm độc, tôm cá ngày càng hiếm hoi…
Cây điên điển mọc hoang trên đồng nước nổi ngày nào giờ phải trồng mới có ăn, và đã trở thành quý hiếm dù người An Giang vẫn tự hào đó là đặc sản quê mình. Về lại quê hương, nhớ lay lắt chiếc xuồng ứ đầy bông điên điển ngày nào để bây giờ phải đi tìm đỏ mắt mới được vài mớ mua giành giựt ngoài chợ. Nỗi nhớ tiếc khía vào lòng như những dấu chấm than, bởi đó là thứ tình yêu không thể mất, một thứ tình yêu ích kỷ và không cần lý lẽ.
Và bây giờ, sau những mùa thu hoạch và cái lợi trước mắt, người ta đã bắt đầu râm ran nói về hệ sinh thái đáng báo động ở khu tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười với hệ thống đê bao. Có cái gì đó như một hạt sạn làm người đi xa thấy xót và ngỡ ngàng, đó là sự đổi thay, sự đổi thay của đất và người, sự đổi thay của năm tháng với những đua chen đến ngộp thở của chức vị và tiền tài…
Nên tất cả những hồi ức nao lòng của những ngày tháng cũ giờ đây chắc chỉ còn đọng lại trong màn sương mù kỷ niệm…
NGÔ NGỌC NGŨ LONG