Năm 2007, Ngân hàng Thế giới cho biết: Cuối thế kỷ 21 (năm 2100) nhiệt độ trái đất có thể tăng lên 3°C, nước biển sẽ dâng lên khoảng 1m. Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng: 4,4% diện tích lãnh thổ bị nhấn chìm, 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, phần lớn đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng bị ngập sâu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực, cũng như hàng ngàn km² đồng bằng ven biển sẽ bị ngập hàng năm, tổn thất GDP không dưới 10%/năm…
Để đảm bảo an toàn cuộc sống của mọi người dân đang sinh sống nơi bờ biển dài và dày đặc sông ngòi mà phải làm “đê cứng” (bê tông cốt thép dày) vô cùng tốn kém, khả năng tài chính của ta chưa thể đáp ứng và phải mất rất nhiều năm. Khả thi hơn cả trong hàng chục năm sắp đến là làm “đê mềm” bằng cách trồng rừng ngập mặn ở tất cả những nơi có thể trồng được các loại cây: mắm, đước, bần, sú, vẹt… với chiều rộng 300-1.000m, phía bên trong là đê, kết hợp với đường giao thông. Hai bên đường có thể trồng các loại tre, cây dầu mè (Jatropha), cỏ Vetiver… là những loại cây, cỏ có tác dụng chống gió, bão, sóng thần, sạt lở… rất tốt. Ở những vùng nước ngọt, phèn… thì trồng tre, bần, dừa nước, gừa, cỏ Vetiver… dọc theo các bờ sông, bờ bao.
Đầu tư cho hệ thống “đê mềm” này không quá tốn kém, có thể huy động được sức dân, cũng như nhiều doanh nghiệp tham gia. Vấn đề là làm sao cho mọi người dân hiểu rõ lợi ích của rừng ngập mặn, có chế độ khoán cho họ quản lý, làm sao cho họ sống được nhờ rừng… và phải xử lý thật nghiêm bất cứ ai vi phạm.
Tuyển chọn và nhanh chóng nhân giống các loại tre có đường kính lớn, dài (như loại lồ ô Thanh Hóa; tre ở Cao Bằng, Lạng Sơn…) để trồng dọc các bờ sông, bờ đê. Tre là loại cây rất dễ trồng, không kén đất, không tốn nhiều công chăm sóc… có tác dụng chống sạt lở, xói mòn, hạn chế gió, bão…
Nhanh chóng phục hồi rừng đầu nguồn bằng các loại cây bản địa cũng như các loài cây mới nhập ngoại, nhất là những loại cây phát triển tốt ở vùng đất khô hạn, nghèo dinh dưỡng… như cây Jatropha (dầu mè), vừa là cây nhanh chóng phủ xanh đất trống, đồi trọc lại là cây cho hạt có dầu để sản xuất diesel sinh học, bã khô dầu làm thức ăn gia súc.
Cùng với các loại cây trên cần trồng xen các loại cỏ cho năng suất cao như: cỏ voi, cỏ VA06, cây Trichanthera gigantea (cây chè đại) giàu dinh dưỡng phục vụ cho chăn nuôi… chúng sẽ nhanh chóng tạo lớp thực bì, làm giảm lượng nước bốc hơi, tăng mạch nước ngầm.
Cần sớm có kế hoạch xây dựng các “cụm và tuyến dân cư an toàn” kết hợp với ao hồ dự trữ nước ngọt ở những vùng đông dân mà tương lai sẽ bị ngập sâu với cốt nền cao hơn mực nước năm 2100.
Thường xuyên nạo vét phần hạ lưu tất cả các con sông đang bị bồi lắng từ Bắc chí Nam (và được tái bồi sau mỗi mùa nước lũ), tạo điều kiện thoát nước nhanh vào mùa mưa lũ, thuận tiện cho giao thông thủy. Đất, cát nạo vét có thể dùng nó để tôn cao nền các “cụm, tuyến dân cư an toàn”, làm đường dọc bờ biển (đê bao).
Nhà nước cần đầu tư thật mạnh vào các lĩnh vực công nghệ sinh học, nhanh chóng tạo ra hàng loạt giống cây, con cả trên cạn lẫn dưới nước, thích nghi với điều kiện biến đổi khí hậu. Phải tạo ra được nhiều loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật… thân thiện với môi trường, phải từng bước chuyển đổi từ phương thức canh tác hóa học trở lại phương thức canh tác sinh học.
Kỹ sư Phan Phùng Sanh
(Hội KHKT xây dựng TPHCM)