Xuất khẩu vật liệu xây dựng, gỗ: Điểm sáng thị trường Trung Đông

Khu vực Trung Đông đang đẩy mạnh đầu tư xây dựng hạ tầng lẫn công trình dân dụng với kinh phí lên đến hàng trăm tỷ USD/năm, mở ra cơ hội cho một số ngành hàng xuất khẩu từ các nước. Đó là nhận định của các chuyên gia tại hội thảo “Tiềm năng và cơ hội xuất khẩu vật liệu xây dựng và sản phẩm gỗ sang thị trường các nước khu vực Trung Đông” do Vụ Thị trường châu Phi - Tây Á - Nam Á và Tạp chí Công thương tổ chức mới đây tại TPHCM.

Nhu cầu nhập khẩu lớn

Theo đánh giá của Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Phi - Tây Á - Nam Á Trần Quang Huy, giá dầu mỏ liên tục tăng và ở mức cao đang giúp các nước Trung Đông thu được nguồn vốn khổng lồ để đầu tư phát triển hạ tầng, xây dựng. Tổng giá trị các dự án xây dựng được cấp phép trong năm 2012 - 2013 tại các nước GCC - Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh - đạt khoảng 915 tỷ USD. Trong đó, tổng giá trị các dự án đã hoàn thành trong năm 2013 đạt gần 70 tỷ USD và dự kiến dự án hoàn thành trong năm 2014 đạt 90 tỷ USD.

Sản xuất đồ gỗ Việt Nam để mở rộng thị trường xuất khẩu. Ảnh: PHẠM KIM NGÂN

Đáng chú ý, các nước Trung Đông có nhu cầu rất lớn với tất cả chủng loại vật liệu xây dựng và chủ yếu dựa vào nguồn nhập khẩu. Đơn cử, Saudi Arabia đang giữ vị trí số 1 về số lượng dự án, chiếm 30% tổng số dự án tại Trung Đông. Saudi Arabia hiện chỉ có 24% dân số có nhà riêng và dự báo đến năm 2015 sẽ thiếu khoảng 2 triệu nhà ở, đến năm 2020 cần thêm khoảng 5 triệu nhà ở. Hiện nay, Saudi Arabia có trên 700 dự án xây dựng đã đăng ký. Riêng năm 2013, tổng giá trị các dự án xây dựng khu vực này được triển khai đạt khoảng 61 tỷ USD và tổng giá trị các dự án khác dự kiến đạt hơn 1.000 tỷ USD đang được xây dựng và lên kế hoạch. Tương tự, chính phủ UAE, Qatar, Thổ Nhĩ Kỳ, Kuwait… cũng đang chi tiêu hàng chục tỷ USD/năm để xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình dân dụng khác. Đối với gỗ và sản phẩm gỗ, do điều kiện tự nhiên và khí hậu khắc nghiệt, khu vực Trung Đông hầu như không có gỗ nguyên liệu; ngành chế biến gỗ cũng chưa phát triển nên chủ yếu phụ thuộc vào nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ. Trong khi đó, các nước trong khu vực này rất ưa chuộng sử dụng sản phẩm nội thất bằng gỗ do khí hậu nóng và khô. “Tại 6 nước GCC có trên 1.000 nhà máy sản xuất đồ nội thất, nguyên liệu chủ yếu nhập từ bên ngoài, nhưng do không đủ đáp ứng nhu cầu nội địa nên phải nhập khẩu nhiều. Trong đó, các sản phẩm nhập khẩu chủ yếu như: gỗ xẻ, ép, dán, ván sàn, tường, bàn, ghế tủ, giường…”, ông Trần Quang Huy giải thích.

Trong những năm qua, hợp tác giao thương kinh tế giữa Việt Nam và các nước Trung Đông đã từng bước phát triển mạnh mẽ. Nếu như năm 2010, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam - Trung Đông chỉ ở mức hơn 3,3 tỷ USD; năm 2012 đã tăng lên trên 6,6 tỷ USD và năm 2013 đạt trên 9,6 tỷ USD. Riêng năm 2013, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Đông hơn 6,6 tỷ USD và nhập khẩu trở lại gần 3 tỷ USD. Trong đó, năm 2013, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Đông đạt giá trị trên 55 triệu USD sắt thép, hơn 54 triệu USD gỗ và sản phẩm gỗ. Các sản phẩm kính xây dựng, gốm sứ, đá, clinker… cũng đạt giá trị tương đối lớn.

Xây dựng chiến lược tiếp cận thị trường

Theo các chuyên gia kinh tế, nhu cầu sử dụng nguồn vật liệu xây dựng, gỗ khá lớn tại khu vực Trung Đông sẽ mở ra cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, để xuất khẩu sản phẩm sang thị trường Trung Đông hiệu quả, các doanh nghiệp Việt Nam cần tích cực nghiên cứu, xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường phù hợp; sản xuất sản phẩm xuất khẩu có chất lượng, quy cách và mẫu mã phù hợp với quy định về tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường, thị hiếu và tập quán tiêu dùng của người dân các nước Trung Đông; chú trọng đầu tư vào khâu quảng cáo, tiếp thị sản phẩm và lưu ý văn hóa giao tiếp, tập quán kinh doanh của khu vực này.

Dẫn chứng về kinh nghiệm kinh doanh với thị trường Trung Đông, bà Trần Loan, Giám đốc Kinh doanh Học viện Doanh nhân LP Việt Nam - VChoice - Dubai, cho biết: “Do mật độ và tốc độ giao thương lớn, kinh doanh tại Dubai và Trung Đông cần có sự hiện diện thương mại tại thị trường này như: chi nhánh, văn phòng đại diện, cửa hàng trưng bày sản phẩm… mới tạo được lòng tin và tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận dễ dàng với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp”. Tương tự, ông Nguyễn Quốc Hải, Thương vụ tại Saudi Arabia, cho biết, các doanh nghiệp phải nắm vững các thông tin về doanh nghiệp, có nội dung trao đổi cụ thể và cập nhật thông tin về môi trường kinh doanh, thay đổi về chính sách thương mại. Đặc biệt, nắm vững phong tục tập quán, văn hóa và xây dựng các đầu mối để liên hệ. Các thông tin cần được xem xét, đánh giá mức độ tin cậy, đặc biệt là các thông tin do cá nhân cung cấp.

Đối với cơ quan quản lý nhà nước, cần tăng cường quan hệ giữa các bộ của Việt Nam với các cơ quan đối tác tương ứng ở Trung Đông. Thiết lập khuôn khổ pháp lý và tăng cường công tác thị trường; hỗ trợ doanh nghiệp, hiệp hội tiến hành các hoạt động xúc tiến thương mại. Đại sứ quán và Thương vụ Việt Nam tại các nước nên tăng cường tiếp cận các nhà thầu xây dựng, doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu vật liệu xây dựng ở nước ngoài để giới thiệu, chào hàng sản phẩm và cung cấp thông tin liên hệ của đối tác cho các doanh nghiệp trong nước.

LẠC PHONG

Các tin, bài viết khác

Hợp tác kinh tế và đầu tư

Long An - “Địa chỉ đỏ” thu hút đầu tư

Với chiến lược đầu tư hạ tầng và chính sách hợp lý trong thời gian qua đã giúp tỉnh Long An trở thành điểm sáng, “địa chỉ đỏ” thu hút đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài. Đồng thời, Long An cũng biết cách khai thác các tiềm năng, lợi thế của địa phương mình để vươn lên phát triển trong tốp đầu của khu vực ĐBSCL. 

Chương trình bình ổn thị trường

Mở đường cho hàng Việt vươn xa

Bán hàng trực tuyến dễ dàng hơn, ít tốn chi phí hơn so với bán hàng truyền thống vì sản phẩm của doanh nghiệp (DN) sẽ tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng. Mặt khác, sản phẩm bán qua sàn thương mại điện tử (TMĐT) sẽ được bán bằng chính thương hiệu của DN, là hàng “Made in Vietnam”, không phải thông qua một công ty bán hàng thứ 3 hoặc gia công cho nhiều thương hiệu nước ngoài.

Thích ứng với biến đổi khí hậu

Nâng cao tỷ lệ phát triển năng lượng tái tạo

Trong chiến lược phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) ở Việt Nam, Chính phủ đã đặt ra các chỉ tiêu cụ thể như tăng tỷ lệ NLTT trong tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp lên 32,3% vào năm 2030 và khoảng 44% vào năm 2050; tỷ lệ điện năng sản xuất từ NLTT tăng 32% vào năm 2030 và lên 42% vào năm 2050.