Yếu tố then chốt để hưởng ưu đãi thuế quan

Doanh nghiệp dệt may, da giày được kỳ vọng tăng trưởng ấn tượng khi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có hiệu lực. Tuy nhiên, để được hưởng mức ưu đãi thuế quan lý tưởng từ các hiệp định thương mại tự do (FTA), hàng hóa bắt buộc phải đáp ứng quy tắc xuất xứ (QTXX) được thiết kế riêng cho FTA đó, nếu không sẽ vô nghĩa. Đó là thông điệp mà Phó trưởng phòng Xuất xứ hàng hóa, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) Bùi Kim Thùy chia sẻ với cộng đồng doanh nghiệp trước thềm hội nhập.

“Hộ chiếu” xuất nhập khẩu hàng hóa

Dệt may, da giày để được hưởng mức ưu đãi thuế lý tưởng từ FTA phải đáp ứng quy tắc xuất xứ thiết kế riêng cho FTA đó Ảnh: CAO THĂNG

Hiệp định thương mại tự do bao gồm nhiều chương, nhiều cấu phần như: Thương mại hàng hóa, Thương mại dịch vụ, Đầu tư, Sở hữu trí tuệ, Lao động - Di chuyển thể nhân, Mua sắm Chính phủ, Môi trường, Hàng rào kỹ thuật trong thương mại, Các biện pháp vệ sinh - kiểm dịch động thực vật, chính sách cạnh tranh, Cơ chế giải quyết tranh chấp… Một trong những cấu phần quan trọng nhất, được thể hiện bằng kết quả hữu hình ngay khi một FTA có hiệu lực là Thương mại hàng hóa. Để được hưởng mức ưu đãi thuế quan lý tưởng từ FTA, hàng hóa bắt buộc phải đáp ứng QTXX được thiết kế riêng cho FTA đó. Không có QTXX, việc đàm phán thuế quan sẽ vô nghĩa. Chỉ khi đáp ứng quy định về xuất xứ, quy tắc cụ thể mặt hàng (ROO, PSR), hàng hóa mới được cấp một giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) ưu đãi FTA thế hệ mới. C/O ưu đãi chính là “hộ chiếu” của hàng hóa xuất nhập khẩu, căn cứ pháp lý quan trọng nhất để cơ quan hải quan nước thành viên nhập khẩu xem xét cho hưởng ưu đãi thuế quan FTA.

QTXX đã, đang và sẽ luôn là vấn đề then chốt, cốt lõi của bất kỳ một hiệp định, thỏa thuận thương mại tự do nào, trong đó có TPP. Các quy tắc cụ thể mặt hàng (PSR) chi tiết cho từng mã HS (mã của hàng hóa xuất nhập khẩu) trong từng ngành hàng về cơ bản phức tạp và không dễ áp dụng nếu nhà sản xuất, xuất khẩu không có kiến thức về mã HS, xuất xứ hàng hóa và không được hướng dẫn cụ thể để áp dụng đúng, chính xác quy tắc phù hợp cho sản phẩm của mình. Chỉ khi áp dụng đúng, chính xác QTXX ưu đãi, nhà sản xuất, xuất khẩu mới có được C/O hoặc tự chứng nhận xuất xứ ưu đãi để được hưởng thuế quan ưu đãi khi xuất khẩu tới các nước thành viên FTA, trong đó có TPP. Do vậy, việc tổ chức hội thảo, tập huấn chuyên sâu nhằm hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện hiệu quả PSR trong các FTA hết sức cần thiết.

Nắn dòng chảy FDI

Hiện nay, số lượng doanh nghiệp Việt Nam có kiến thức chuyên sâu về FTA và nắm vững QTXX là không nhiều. Chỉ khi nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về FTA, đặc biệt về ROO, PSR (yếu tố cốt lõi của tất cả các FTA), tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ FTA mới được cải thiện, từ đó nâng cao giá trị gia tăng và hàm lượng chế biến sâu trong các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam, góp phần tạo nên sự tăng trưởng xuất khẩu bền vững cho nền kinh tế đất nước. Thống kê cho thấy, tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ các FTA mà Việt Nam đã tham gia hiện nay rất thấp (ngoại trừ AKFTA 85%) - trung bình 35%, tức là 65% còn lại là hàng hóa phải chịu thuế MFN cao hơn nhiều so với mức thuế FTA từ 0% - 5%. Tỷ lệ này được đo bằng tổng kim ngạch xuất khẩu được hưởng thuế FTA chia cho tổng kim ngạch xuất khẩu chung đến một thị trường FTA. Một trong những lý do chính là do doanh nghiệp chưa có hiểu biết đầy đủ về QTXX nên không tận dụng được ưu đãi xuất xứ, không xin được C/O ưu đãi và không được hưởng mức thuế quan 0% - 5% mà các FTA mang lại. QTXX trong các FTA mà Việt Nam đã thực hiện về cơ bản tương đối linh hoạt và có phần lỏng hơn so với QTXX trong TPP. Với FTA cũ, tỷ lệ tận dụng còn thấp thì với FTA mới, trong đó có TPP, với những điều khoản phức tạp và chặt hơn, nếu không có các chương trình tập huấn kịp thời và thường xuyên cho doanh nghiệp và bản thân doanh nghiệp không chủ động cập nhật thông tin và trang bị kiến thức về FTA, việc cải thiện tỷ lệ tận dụng ưu đãi FTA, nâng cao giá trị gia tăng trong sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam sẽ không khả thi.

TPP được đánh giá là FTA thế hệ mới tương đối toàn diện. TPP cũng được đánh giá là hiệp định lạ nhất, nhưng sẽ mang lại lợi ích lớn nhất cho thành viên tham gia hiệp định, thể hiện ở việc nắn dòng chảy FDI hướng về các quốc gia này, điều chỉnh chuỗi cung ứng giá trị khu vực trong phạm vi FTA. Đồng thời, hạn chế không cho các quốc gia ngoài TPP được hưởng lợi thông qua việc thiết kế bộ QTXX. Theo đó, bắt buộc một số nhóm hàng trọng điểm phải sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu có xuất xứ trong khối, qua đó giúp nâng cao hàm lượng chế biến có xuất xứ TPP trong thành phẩm xuất khẩu, nâng cao giá trị gia tăng ở lại với quốc gia sản xuất, xuất khẩu hàng hóa trong TPP. Việc tuân thủ QTXX là yếu tố then chốt quyết định việc được hưởng ưu đãi thuế quan TPP. Nếu các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam không đáp ứng bộ QTXX này, việc hưởng thuế quan ưu đãi sẽ vô nghĩa. TPP thể hiện mức độ khó cao nhất khi áp dụng quy tắc “từ sợi trở đi”, có nghĩa là từ sợi tạo ra vải thô, vải thành phẩm và sau đó là hàng may mặc hoàn thiện, tất cả các công đoạn này phải được sản xuất trong phạm vi khu vực TPP.

LẠC PHONG (ghi)

Các tin, bài viết khác

Hợp tác kinh tế và đầu tư

Long An - “Địa chỉ đỏ” thu hút đầu tư

Với chiến lược đầu tư hạ tầng và chính sách hợp lý trong thời gian qua đã giúp tỉnh Long An trở thành điểm sáng, “địa chỉ đỏ” thu hút đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài. Đồng thời, Long An cũng biết cách khai thác các tiềm năng, lợi thế của địa phương mình để vươn lên phát triển trong tốp đầu của khu vực ĐBSCL. 

Chương trình bình ổn thị trường

Mở đường cho hàng Việt vươn xa

Bán hàng trực tuyến dễ dàng hơn, ít tốn chi phí hơn so với bán hàng truyền thống vì sản phẩm của doanh nghiệp (DN) sẽ tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng. Mặt khác, sản phẩm bán qua sàn thương mại điện tử (TMĐT) sẽ được bán bằng chính thương hiệu của DN, là hàng “Made in Vietnam”, không phải thông qua một công ty bán hàng thứ 3 hoặc gia công cho nhiều thương hiệu nước ngoài.

Thích ứng với biến đổi khí hậu

Nâng cao tỷ lệ phát triển năng lượng tái tạo

Trong chiến lược phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) ở Việt Nam, Chính phủ đã đặt ra các chỉ tiêu cụ thể như tăng tỷ lệ NLTT trong tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp lên 32,3% vào năm 2030 và khoảng 44% vào năm 2050; tỷ lệ điện năng sản xuất từ NLTT tăng 32% vào năm 2030 và lên 42% vào năm 2050.