Những năm đầu sau giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh bước vào một thử thách rất cụ thể: lo cái ăn cho khoảng 4 triệu người dân thành phố. Cách Đồng bằng sông Cửu Long không xa, nhưng có lúc gạo vẫn không về được thành phố theo đường lưu thông bình thường.

Điểm nghẽn nằm ở cơ chế giá. Theo quy định, lúa được thu mua với giá 0,52 đồng/kg, trong khi giá thị trường cao hơn nhiều lần. Nông dân không muốn bán theo giá cũ; thành phố thì đứng trước áp lực thiếu lương thực.

Trong tình thế ấy, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Võ Văn Kiệt chỉ đạo Công ty Lương thực Thành phố tìm cách đưa gạo về cho dân. Bà Nguyễn Thị Ráo, tức Ba Thi, khi ấy là Giám đốc Công ty Lương thực Thành phố, đã dùng danh nghĩa cá nhân mua lúa của nông dân theo “giá thỏa thuận” 2,5 đồng/kg. Gạo sau đó được đưa về Thành phố Hồ Chí Minh, bán theo giá kinh doanh, tính đủ giá mua thực tế, chi phí xay xát, vận chuyển và thặng số thương nghiệp.

Các anh hùng, dũng sĩ miền Nam ra thăm Bác Hồ năm 1969 (bà Ba Thi bìa trái). Ảnh tư liệu

Các anh hùng, dũng sĩ miền Nam ra thăm Bác Hồ năm 1969 (bà Ba Thi bìa trái). Ảnh tư liệu

Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh vào thăm bà Ba Thi và tham quan mô hình đổi mới ở Công ty Lương thực TP.HCM năm 1985. Ảnh Gia đình cung cấp

Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh vào thăm bà Ba Thi và tham quan mô hình đổi mới ở Công ty Lương thực TP.HCM năm 1985. Ảnh Gia đình cung cấp

Bí thư Võ Văn Kiệt (thứ hai từ phải qua) và bà Ba Thi, ông Lữ Minh Châu. Ảnh Gia đình cung cấp

Bí thư Võ Văn Kiệt (thứ hai từ phải qua) và bà Ba Thi, ông Lữ Minh Châu. Ảnh Gia đình cung cấp

Động thái “phá giá” này không chỉ cứu đói cho 4 triệu dân thành phố mà còn tạo hiệu ứng domino: giá lúa khắp đồng bằng Nam bộ tăng lên 2,5 đồng/kg, khiến cho giá chỉ đạo 0,52 đồng/kg trở nên lỗi thời. Chẳng bao lâu sau, làn sóng này lan rộng ra cả nước, phá vỡ cơ chế giá nghĩa vụ.

Chính sự linh hoạt và sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm đó đã giúp Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ trụ vững mà còn vươn lên, đóng góp lớn vào sự phát triển không ngừng của đất nước.

Gương mặt nhân hậu của bà Ba Thi. Ảnh gia đình cung cấp

Gương mặt nhân hậu của bà Ba Thi. Ảnh gia đình cung cấp

Từ một chuyến “chạy gạo”, thành phố chạm vào nút thắt của cơ chế giá

4 triệu dân

Áp lực bảo đảm lương thực cho thành phố trong những năm đầu sau giải phóng

0,52 đồng/kg

Giá thu mua lúa theo quy định lúc bấy giờ

2,5 đồng/kg

Giá thỏa thuận để mua lúa từ nông dân

Ba Thi

Người đứng mũi chịu sào trong câu chuyện “hạt gạo” của TPHCM thời bao cấp

Từ câu chuyện “chạy gạo”, TPHCM bước vào một giai đoạn tìm tòi nhiều cách làm mới. Trước những điểm nghẽn của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, lãnh đạo thành phố chọn cách đi xuống cơ sở, nghe doanh nghiệp, nghe người dân, tìm lời giải từ chính những vướng mắc đang diễn ra hằng ngày. Những thử nghiệm ban đầu có lúc bị gọi là “phá rào”, “làm lén”, nhưng từ thực tiễn ấy, một hướng đi mới bắt đầu hình thành.

Tháng 7-1983, tại Đà Lạt, những cách làm mới của TPHCM có dịp được trình bày trực tiếp. Đồng chí Nguyễn Văn Linh đã xin ý kiến đồng chí Trường Chinh để mỗi ngày dành một khoảng thời gian nghe các giám đốc doanh nghiệp đang thí điểm cách làm ăn mới ở cơ sở báo cáo.

Từ câu chuyện sản xuất, lưu thông, tiền lương, nguyên liệu, hiệu quả kinh doanh…, thực tiễn thành phố không còn là những thử nghiệm riêng lẻ, mà trở thành dữ liệu sống động cho yêu cầu đổi mới cơ chế. Sau khi nghe báo cáo và khảo sát thực tế, đồng chí Trường Chinh ủng hộ những cách làm của TPHCM.

Trước đó, năm 1982, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 01-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ phát triển TPHCM. Sau đó, các nghị quyết tiếp tục được ban hành, tạo thêm cơ chế để thành phố phát huy vai trò đầu tàu. Điều quan trọng không chỉ nằm ở văn bản, mà ở mối quan hệ hai chiều giữa thực tiễn và chính sách: thành phố thử nghiệm từ đời sống; Trung ương lắng nghe, tổng kết và từng bước mở đường cho đổi mới.

Từ “hạt gạo Ba Thi” đến “Sự kiện Đà Lạt”, những bước đi táo bạo thời bao cấp đã chứng minh một điều: Khi đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, không khó khăn nào là không thể vượt qua.

Khi thực tiễn lên tiếng, cơ chế phải thay đổi để theo kịp đời sống

14-9-1982

Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 01-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ phát triển TPHCM

Tháng 7-1983

“Sự kiện Đà Lạt”, nơi các cách làm mới của TPHCM được báo cáo, trao đổi trực tiếp

8,17%

Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của TPHCM thời kỳ 1980-1985

Gấp 43 lần

Mức tăng thu ngân sách địa phương năm 1985 so với năm 1980

Sau Đại hội VI của Đảng, nền kinh tế Việt Nam chuyển mình từ cơ chế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngày 12-5-1989, UBND TPHCM đã có một quyết định mang tính bước ngoặt, đó là chuyển đổi Ban Quản lý Hợp tác xã Mua bán Thành phố thành Liên hiệp Hợp tác xã Mua bán Thành phố (Saigon Co.op). Quyết định này không chỉ cứu vãn mô hình hợp tác xã đang trên bờ vực tan rã mà còn mở ra một chương mới cho ngành bán lẻ Việt Nam.

Saigon Co.op ra đời ngày 12-5-1989 với số vốn ban đầu 1 tỷ đồng. Khó khăn không ít: kinh nghiệm quản lý còn hạn chế, cơ sở vật chất thiếu thốn, cạnh tranh trên thị trường ngày càng rõ hơn. Nhưng chính trong môi trường ấy, mô hình hợp tác xã kiểu mới có cơ hội tự điều chỉnh để tồn tại và phát triển.

Năm 1996, siêu thị Co.opmart đầu tiên ra đời trên đường Cống Quỳnh. Khi nhiều siêu thị lúc bấy giờ chủ yếu kinh doanh hàng ngoại nhập, Co.opmart Cống Quỳnh chọn một hướng đi khác: ưu tiên hàng Việt Nam, phục vụ số đông người tiêu dùng Việt Nam, xây dựng lòng tin bằng sự gần gũi và ổn định.

Từ một siêu thị đầu tiên, Saigon Co.op từng bước tạo ra không gian bán lẻ hiện đại nhưng gần gũi, nơi hàng Việt có chỗ đứng bền bỉ trong đời sống tiêu dùng đô thị.

Siêu thị Việt, do người Việt xây dựng, vì người Việt phục vụ

12-5-1989

Thành lập Saigon Co.op

1 tỷ đồng

Nguồn vốn ban đầu

1996

Co.opmart Cống Quỳnh ra đời

Trên 90%

Tỷ lệ hàng Việt Nam trong hệ thống Co.opmart

Ở phía Nam thành phố, Tân Thuận - Nhà Bè từng là vùng ngập mặn, hoang hóa, hạ tầng còn nhiều hạn chế. Nhưng chính nơi ấy được TPHCM chọn làm điểm thử nghiệm khu chế xuất đầu tiên của cả nước.

Trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn về vốn, công nghệ và thị trường quốc tế, Khu chế xuất Tân Thuận mở ra một cách tiếp cận mới: thu hút đầu tư nước ngoài, tổ chức sản xuất xuất khẩu, tạo việc làm cho người lao động và thử nghiệm mô hình phát triển gắn với hội nhập.

Điểm đáng chú ý là thành phố không chờ có sẵn điều kiện hoàn hảo mới bắt tay làm. TPHCM nhìn thấy trong vùng đất khó ấy một vị trí chiến lược: gần cảng, gần nguồn lao động, không xa trung tâm và có khả năng mở hướng phát triển về phía Nam, ra phía biển.

Từ khu chế xuất đầu tiên, Tân Thuận dần kéo theo những mảnh ghép lớn hơn của khu Nam: Phú Mỹ Hưng, Hiệp Phước, đại lộ Nguyễn Văn Linh và các trục kết nối mới.

Thành công của Khu chế xuất Tân Thuận đã mở đường cho mô hình khu chế xuất, khu công nghiệp lan rộng ra ở TPHCM và sau đó là cả nước. Tính từ năm 1991 đến năm 2002, cả nước đã có 72 khu chế xuất - khu công nghiệp được thành lập, đóng góp khoảng 30% giá trị sản lượng công nghiệp của cả nước. Đến nay, tính riêng TPHCM có 17 khu chế xuất - khu công nghiệp đang hoạt động, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

1991-1992

Khu chế xuất Tân Thuận được thành lập, khởi công trong giai đoạn đầu đổi mới

300ha

Quy mô vùng đất Tân Thuận Đông được chọn làm nơi thử nghiệm

255 nhà đầu tư

Từ 21 quốc gia, vùng lãnh thổ

Khoảng 60.000 lao động

Được tạo việc làm từ hoạt động của khu chế xuất

Đổi mới không chỉ là tháo gỡ cho sản xuất, mở đường cho đầu tư hay xây dựng mô hình kinh doanh mới. Với một đô thị đông dân như TPHCM, đổi mới còn phải trả lời một câu hỏi rất đời thường: làm thế nào để người dân tiếp cận hàng hóa thiết yếu với giá hợp lý?

Từ năm 2002, Chương trình Bình ổn thị trường ra đời trong mạch suy nghĩ đó. Đây không phải là cách quay lại bao cấp, mà là một mô hình điều tiết thị trường bằng sự phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp, ngân hàng và hệ thống phân phối.

Từ nguồn vốn ngân sách ban đầu, chương trình từng bước chuyển sang xã hội hóa. Đáng chú ý, từ năm 2013, thành phố không còn ứng vốn ngân sách trực tiếp, mà chuyển dần sang cơ chế kết nối ngân hàng, doanh nghiệp và hệ thống phân phối, để nguồn lực xã hội cùng tham gia giữ nhịp thị trường.

Điểm bền bỉ của chương trình nằm ở chỗ tác động của nó đi vào đời sống hằng ngày. Hàng bình ổn có mặt trên kệ siêu thị, điểm bán, chợ và các kênh phân phối; một số mặt hàng thiết yếu được giữ ở mức thấp hơn thị trường; hàng Việt có thêm điều kiện mở rộng thị phần trong chính thị trường nội địa.

Bình ổn thị trường - Đó là cách thành phố điều tiết thị trường bằng công cụ mới, để chính sách đi vào từng phiên chợ, từng kệ hàng, từng bữa ăn của người dân.

2002

Chương trình Bình ổn thị trường được triển khai

45 tỷ đồng

Nguồn vốn ngân sách ứng ban đầu

344 tỷ đồng

Doanh thu chương trình năm 2002

189.095 tỷ đồng

Tổng doanh thu chương trình giai đoạn 2012-2022

Thấp hơn thị trường 5%-10%

Mức giá hàng bình ổn so với thị trường

10.000 tấn/tháng

Lượng hàng bình ổn Saigon Co.op cung ứng cho thị trường

Cùng với những đổi mới về cơ chế, thị trường, sản xuất và lưu thông, dấu mốc thụ tinh trong ống nghiệm cho thấy một chiều sâu khác của đổi mới: đổi mới để đem lại hạnh phúc cho con người.

Vào những năm 1990, kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ở Việt Nam còn rất mới. Điều kiện trang thiết bị, chuyên môn, kinh phí đều thiếu thốn. Nhưng tại Bệnh viện Từ Dũ, các bác sĩ đã kiên trì đi vào một lĩnh vực khó, vừa cần tri thức y học hiện đại, vừa cần bản lĩnh vượt qua hoài nghi và áp lực xã hội.

Đêm 30-4-1998, đúng vào thời điểm Kỷ niệm 23 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tiếng khóc chào đời của những em bé đầu tiên ra đời từ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm vang lên tại Bệnh viện Từ Dũ. Lúc 2 giờ 45 phút, bé Mai Quốc Bảo chào đời. Sau đó là hai bé Phạm Tường Lan Thy và Lưu Tuyết Trân.

Những em bé ấy không chỉ là dấu mốc của y học Việt Nam, mà còn mở thêm cơ hội làm cha mẹ cho nhiều gia đình hiếm muộn. Từ khoảnh khắc ấy, kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ở Việt Nam bước sang một trang mới.

Kể từ dấu mốc năm 1998 đến nay, Bệnh viện Từ Dũ đã phát triển lớn mạnh với những kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tối ưu, tỷ lệ điều trị thành công cao tương đương với thế giới nhờ áp dụng những kỹ thuật mới trong chẩn đoán nguyên nhân và điều trị hiếm muộn.

“Trời ơi, gần 50 tuổi đầu mới có được đứa con!”
Ông Lưu Tấn Trực, cha của bé Lưu Tuyết Trân

2 giờ 45 phút,
ngày 30-4-1998

Bé Mai Quốc Bảo chào đời bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm

3 em bé đầu tiên

Mai Quốc Bảo, Phạm Tường Lan Thy và Lưu Tuyết Trân

150.000 trẻ em

Đã chào đời nhờ phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm tại Việt Nam tính đến năm 2024

40%-50%

Tỷ lệ thành công

 Khi đổi mới bắt đầu từ đời sống

Bản lĩnh đi trước của thành phố không nằm ở sự khác biệt để khác biệt, mà ở khả năng nhận ra rất sớm những điểm nghẽn của đời sống, dám thử nghiệm cách làm mới và kiên trì biến thực tiễn thành động lực đổi mới.

Từ những năm tháng khó khăn ấy, TPHCM không chỉ tạo thêm nguồn lực phát triển, mà còn đặt nền cho một dòng chảy sâu rộng hơn: phát triển để chăm lo tốt hơn cho người dân, để thành phố năng động hơn, nghĩa tình hơn và tiếp tục đi trước cùng cả nước.