Năng lực thực thi quyết định kết quả

Việt Nam đặt ra khát vọng trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Đây là tầm nhìn chiến lược đầy tham vọng nhưng cũng chứa đựng nhiều thách thức trong bối cảnh thế giới biến động nhanh chóng. Phải đổi mới toàn diện thể chế, nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa và đặc biệt là tăng cường năng lực thực thi để biến khát vọng thành hiện thực.

Xây dựng pháp luật “đi trước một bước”

Khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 không chỉ là một mục tiêu kinh tế mà còn là biểu tượng của ý chí và khát vọng vươn lên của toàn dân tộc.

Tới năm 2045 còn 19 năm, và là khoảng thời gian đủ để một thế hệ lao động trưởng thành, một doanh nghiệp nhỏ phát triển thành tập đoàn lớn hay một đô thị được tái cấu trúc, đủ để tạo nên những bước ngoặt nếu được nhìn nhận và thực hiện đúng đắn. Nhưng, những cơ hội phát triển có thể bị bỏ lỡ và Việt Nam sẽ khó tiến nhanh trong cuộc đua phát triển toàn cầu nếu các cải cách quan trọng bị trì hoãn hoặc thực thi chưa quyết liệt.

“Nếu một quốc gia không nâng được năng suất lao động, không có doanh nghiệp nội địa đủ mạnh, không làm chủ các khâu có giá trị gia tăng cao và không có thị trường tài chính đủ sâu, quốc gia đó có nguy cơ rơi vào tình trạng tăng trưởng chậm lại, khi các lợi thế ban đầu suy giảm”, PGS-TS Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam, nhận xét.

Việt Nam có nhiều lợi thế nổi bật như quy mô thị trường tăng dần, vị trí chiến lược trong chuỗi cung ứng khu vực, nền kinh tế vĩ mô ổn định và quyết tâm cải cách mạnh mẽ của lãnh đạo cấp cao. Lợi thế chỉ phát huy hiệu quả khi được đặt trên nền tảng thể chế minh bạch, thông thoáng, hiệu quả.

“Bên cạnh sự quan trọng của cơ sở hạ tầng vật chất (như đường cao tốc, lưới điện hay cảng biển…), thể chế là “hạ tầng mềm” cũng quan trọng không kém và mang tính quyết định cho sự phát triển bền vững”, luật sư Nguyễn Hồng Chung, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Terra Việt Nam, nêu ý kiến.

Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã khẳng định yêu cầu đổi mới phương thức quản trị quốc gia nhằm tạo lập năng lực phát triển mới phù hợp với yêu cầu đổi thay nhanh chóng của thời đại.

Với cộng đồng doanh nghiệp - vừa là đối tượng được hưởng lợi từ tăng trưởng vừa có vai trò quan trọng trong tạo ra tăng trưởng, có thể thấy rằng để thúc đẩy phát triển, hệ thống pháp luật cần rõ ràng và minh bạch, giúp các quyết định kinh tế diễn ra nhanh hơn, giảm thiểu rủi ro và chi phí.

Bộ máy công vụ chuyên nghiệp, năng động sẽ giảm gánh nặng cho doanh nghiệp, từ đó kích thích sáng tạo và đầu tư. Cơ chế phân cấp minh bạch giúp địa phương chủ động phát huy thế mạnh riêng, tạo ra đa dạng không gian phát triển trên cả nước. Những cải thiện đó có khả năng nâng năng suất của cả nền kinh tế trong nhiều năm.

sản-xuất-ống-nhựa.jpg
Công nhân kiểm tra các sản phẩm ống nhựa HDPE tại Nhà máy CNS Thạnh Phát, Khu công nghiệp Hiệp Phước, TPHCM. Ảnh: HOÀNG HÙNG

TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, nhấn mạnh, cần đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo hướng “đi trước một bước” để mở rộng không gian cho các mô hình kinh tế mới nảy sinh và phát triển, giúp doanh nghiệp tự tin đổi mới sáng tạo.

Không có quốc gia thu nhập cao phát triển bền vững nào mà không dựa vào doanh nghiệp nội địa vững mạnh. FDI tuy mang lại vốn, công nghệ và thị trường, nhưng chỉ khi doanh nghiệp nội địa biết tiếp nhận, cải tiến và sáng tạo để tạo ra giá trị riêng thì mới hình thành năng lực quốc gia thực sự.

Sự phát triển và năng lực của doanh nghiệp trong nước chính là trung tâm để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, gia tăng năng suất lao động, đồng thời tạo mối liên kết hiệu quả với hệ thống nghiên cứu khoa học và đào tạo đại học nhằm làm chủ công nghệ, tri thức. Doanh nghiệp mạnh cũng thúc đẩy cải cách thể chế, góp phần tạo môi trường kinh doanh minh bạch, cạnh tranh lành mạnh và năng động hơn.

Tuy nhiên, theo luật sư Nguyễn Hồng Chung, doanh nghiệp cũng đứng trước đòi hỏi khắt khe về năng lực, sáng tạo và quản trị. Bởi mục tiêu đến năm 2045 không chỉ là sản xuất ra bao nhiêu thiết bị, điện thoại hay chip điện tử, mà còn là bao nhiêu công nghệ nội địa được phát triển, thương hiệu Việt được xây dựng, doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt chuỗi cung ứng trong khu vực.

Khi các điểm nghẽn được tháo bỏ thì sẽ không chỉ tạo cơ sở để đạt mục tiêu đến năm 2030, mà còn tạo nền tảng vững chắc để tiến tới mục tiêu xa hơn: trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI.

PGS-TS Ngô Trí Long, Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam

Năng lực thực thi: “chìa khóa” biến khát vọng thành hiện thực

Nếu thể chế và doanh nghiệp là nền tảng, thì năng lực thực thi chính là điều kiện quyết định để các chiến lược và khát vọng phát triển đi vào thực tế với kết quả rõ ràng. Khoảng cách giữa tiềm năng và phát triển nằm ở năng lực biến chủ trương thành hành động và kết quả cụ thể trên thực tế.

TS Nguyễn Sỹ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, nhận định: “Khoảng cách lớn nhất hiện nay là khoảng cách giữa giá trị và hành vi”. Nói cách khác, những giá trị tốt đẹp nếu không được thể chế hóa thành hành động cụ thể sẽ vẫn chỉ là tiềm năng chưa được khai thác triệt để.

Theo TS Nguyễn Sỹ Dũng, cần xây dựng một nền văn hóa phát triển gắn liền liêm chính, kỷ luật hành động và chịu trách nhiệm đến cùng. Mọi cải cách và chiến lược đều xoay quanh câu hỏi cốt lõi: Ai thực thi? Thực thi như thế nào? Kết quả được đo bằng tiêu chí nào?

Năng lực thực thi không chỉ nằm ở bộ máy nhà nước mà còn ở văn hóa trách nhiệm, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng làm chủ tri thức, công nghệ của toàn nền kinh tế. Các lĩnh vực công nghệ cao như trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng sạch mở ra cơ hội lớn cho phát triển nhanh nhưng chỉ trở thành lợi thế thật sự nếu có hệ thống nghiên cứu đủ mạnh, tiêu chuẩn kỹ thuật cao và sự liên kết hiệu quả giữa trường đại học với doanh nghiệp.

Mục tiêu đến năm 2045 không chỉ là cột mốc về tốc độ tăng GDP hay thu nhập bình quân đầu người mà còn là thước đo chất lượng phát triển. Thời cơ phát triển không kéo dài vô hạn, khát vọng chỉ trở thành hiện thực khi được chuyển hóa thành năng lực hành động và trách nhiệm đến cùng.

Khát vọng phát triển trở thành quốc gia thu nhập cao, phát triển bền vững vào năm 2045 là mục tiêu đầy thách thức nhưng có thể đạt được nếu tập trung xây dựng thể chế phù hợp, phát triển doanh nghiệp nội địa và nâng cao mạnh mẽ năng lực thực thi trên mọi lĩnh vực.

Theo TS Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA), sự phối hợp chặt chẽ giữa các trụ cột này sẽ tạo tiền đề để biến khát vọng thành hiện thực, giúp Việt Nam bước sang trang mới trong hành trình phát triển và hội nhập toàn cầu.

Tin cùng chuyên mục