Rừng Sác, rừng ngập mặn Cần Giờ
được UNESCO công nhận là
Khu Dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam
TỪ “VÙNG ĐẤT CHẾT” ĐẾN KỲ TÍCH SINH THÁI
Trong kháng chiến chống Mỹ, Chiến khu Rừng Sác là căn cứ địa cách mạng nổi tiếng của Trung đoàn 10 Đặc công Rừng Sác (T10), ghi dấu nhiều chiến công vang dội. Nhưng cũng chính nơi đây từng hứng chịu sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh. Hàng chục nghìn hecta rừng ngập mặn bị chất độc hóa học và bom đạn hủy diệt, nhiều khu vực trở thành “vùng đất chết”, hệ sinh thái gần như bị xóa sổ hoàn toàn.
Sau ngày đất nước thống nhất, đặc biệt từ khi huyện Duyên Hải (nay là Cần Giờ) sáp nhập vào Thành phố Hồ Chí Minh năm 1978, thành phố đã khởi động chương trình phục hồi rừng ngập mặn quy mô lớn với quyết tâm “hồi sinh lá chắn sinh thái phương Nam”.
Ngày 25-8-1978, chiến dịch trồng rừng đầu tiên được phát động, huy động gần 20.000 ngày công lao động. Chỉ sau hơn một tháng, hơn 3.100ha rừng đã được phủ xanh, mở đầu cho hành trình tái sinh kéo dài hơn hai thập niên.
KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM
Sau 22 năm phục hồi và bảo tồn, ngày 22-1-2000, UNESCO chính thức công nhận Rừng ngập mặn Cần Giờ là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới đầu tiên của Việt Nam.
Với diện tích hơn 75.000ha, hệ sinh thái Cần Giờ hiện là nơi cư trú của hàng trăm loài động thực vật đặc hữu vùng ngập mặn: hơn 220 loài thực vật bậc cao; khoảng 700 loài thủy sinh không xương sống; 130 loài cá; 130 loài chim; nhiều loài quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam. Những cánh rừng đước, mắm, bần, dừa nước… trải dài nơi cửa sông Đồng Nai – Sài Gòn – Vàm Cỏ đã tạo nên “bức tường xanh” đặc biệt của vùng Đông Nam bộ.
Ngày nay, Rừng Sác – Cần Giờ giữ vai trò đặc biệt đối với một siêu đô thị 14 triệu dân, là “tấm lá chắn” ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng và thiên tai ven biển.
KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN “THÀNH PHỐ SINH THÁI BIỂN”
Từ nền tảng khu dự trữ sinh quyển thế giới, Thành phố Hồ Chí Minh đang định hướng phát triển Cần Giờ theo mô hình “thành phố xanh – thành phố thông minh – đô thị sinh thái biển”.
Các chiến lược phát triển tập trung vào: năng lượng tái tạo; du lịch sinh thái và du lịch văn hóa; kinh tế biển bền vững; bảo tồn đa dạng sinh học; nghiên cứu tín chỉ carbon và thích ứng biến đổi khí hậu.
Rừng Sác - rừng ngập mặn Cần Giờ được phục hồi sau khi chiến tranh kết thúc. Ảnh: ĐÌNH DƯ
Rừng Sác - rừng ngập mặn Cần Giờ được phục hồi sau khi chiến tranh kết thúc. Ảnh: ĐÌNH DƯ
Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, huyện Cần Giờ, TPHCM. Ảnh HOÀNG HÙNG
Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, huyện Cần Giờ, TPHCM. Ảnh HOÀNG HÙNG
Đoàn du khách khám phá rừng ngập mặn và căn cứ nổi tại Rừng Sác, huyện Cần Giờ, TPHCM. Ảnh: HOÀNG HÙNG
Đoàn du khách khám phá rừng ngập mặn và căn cứ nổi tại Rừng Sác, huyện Cần Giờ, TPHCM. Ảnh: HOÀNG HÙNG
Trồng rừng ngập mặn ở Cần Giờ, TPHCM. Ảnh HOÀNG HÙNG
Trồng rừng ngập mặn ở Cần Giờ, TPHCM. Ảnh HOÀNG HÙNG
Chủ tịch UBND TP Võ Viết Thanh, Thứ trưởng Bộ KH-CN và MT Chu Hảo và đoàn đại biểu tham quan công ty Lạc Hồng
Chủ tịch UBND TP Võ Viết Thanh, Thứ trưởng Bộ KH-CN và MT Chu Hảo và đoàn đại biểu tham quan công ty Lạc Hồng
Các kỹ sư làm việc tại Công viên phần mềm Quang Trung. Ảnh: ĐỨC TRÍ (2013).jpg
Các kỹ sư làm việc tại Công viên phần mềm Quang Trung. Ảnh: ĐỨC TRÍ (2013).jpg
Ảnh: HOÀNG HÙNG
Ảnh: HOÀNG HÙNG
Thành lập Khu Công viên phần mềm Quang Trung -
khu công nghệ thông tin tập trung đầu tiên của cả nước
Ngày 7-7-2000, Công viên Phần mềm Quang Trung chính thức được thành lập - mô hình khu CNTT tập trung đầu tiên của cả nước.
Lễ khánh thành diễn ra ngày 16-3-2001, mở đầu cho hành trình hình thành trung tâm công nghệ hàng đầu Việt Nam. Đây được xem là bước đi tiên phong đầy táo bạo trong bối cảnh ngành công nghệ thông tin Việt Nam khi ấy còn ở giai đoạn sơ khai.
Sau hơn hai thập niên phát triển, QTSC không chỉ là khu công nghệ thông tin tập trung lớn nhất cả nước mà còn trở thành biểu tượng cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức.
Hiện khu công viên quy tụ khoảng 165 doanh nghiệp công nghệ, trong đó có hơn 50 doanh nghiệp nước ngoài, hoạt động trong các lĩnh vực phần mềm, nội dung số, trí tuệ nhân tạo, dịch vụ CNTT và nghiên cứu phát triển (R&D).
Nhiều tập đoàn công nghệ trong và ngoài nước đã chọn QTSC làm trung tâm phát triển sản phẩm, gia công phần mềm và đào tạo nhân lực.
Giai đoạn 2016-2020, doanh thu các doanh nghiệp tại đây đạt hơn 50.000 tỷ đồng, tăng gấp ba lần so với giai đoạn trước. Đặc biệt, hiệu quả đầu tư của mô hình được đánh giá rất cao khi mỗi 1 USD vốn ngân sách đã thu hút được khoảng 33,7 USD vốn xã hội hóa.
Hiện có gần 22.000 người học tập và làm việc thường xuyên tại đây.
Nhiều sản phẩm công nghệ “Made in Vietnam” phát triển từ QTSC hiện đã xuất khẩu đến hơn 20 quốc gia, góp phần khẳng định năng lực cạnh tranh của ngành công nghệ Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Mô hình QTSC còn tạo ảnh hưởng lớn đến chiến lược phát triển công nghệ thông tin quốc gia. Từ năm 2016, mô hình “Chuỗi Công viên phần mềm Quang Trung” được mở rộng, liên kết với nhiều trung tâm công nghệ.
QTSC trở thành nền tảng thử nghiệm cho nhiều mô hình đô thị thông minh, chính quyền điện tử và chuyển đổi số tại Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời giữ vai trò tiên phong trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và công nghệ số lõi.
Khánh thành Khu Công nghệ cao
Thành phố Hồ Chí Minh
Chính thức thành lập năm 2002, Khu Công nghệ cao TPHCM - Saigon Hi-Tech Park (SHTP) là dự án tiên phong, tạo bước chuyển từ nền công nghiệp truyền thống sang công nghệ cao. Hiện nay, SHTP có ba đơn vị khoa học – công nghệ trực thuộc gồm Trung tâm Nghiên cứu triển khai, Vườn ươm Doanh nghiệp Công nghệ cao và Trung tâm Đào tạo Khu Công nghệ cao.
SHTP được hình thành với sứ mệnh nâng cao năng lực nội sinh về khoa học công nghệ, thúc đẩy phát triển công nghệ cao cho TPHCM và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Định hướng phát triển của SHTP là tiếp thu và ứng dụng công nghệ cao từ nước ngoài, kết hợp sản xuất công nghiệp với hoạt động nghiên cứu triển khai R&D, từng bước làm chủ và sáng tạo công nghệ nội sinh.
● SHTP đã tham gia Hiệp hội các Khu Công nghệ cao châu Á Thái Bình Dương (ASPA) thu hút được những tập đoàn công nghệ cao hàng đầu thế giới, xuất khẩu sản phẩm hàng hóa công nghệ cao, nâng cao trình độ quản lý và năng suất lao động. Với quy mô 930ha, hàng năm SHTP đạt giá trị sản xuất 20 tỷ USD với kim ngạch xuất khẩu chiếm trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của thành phố vào năm 2021.
● Sự hiện diện của các tập đoàn hàng đầu như Intel, Jabil (Hoa Kỳ), Nidec, Nipro, NTT (Nhật Bản), Samsung (Hàn Quốc), Datalogic (Italia), Besi (Hà Lan),... đã góp phần cải thiện, nâng cao môi trường đầu tư của TPHCM nói riêng và cả nước nói chung.
● Năm 2017, SHTP vinh dự nhận được Huân chương Lao động hạng Nhất và được Bộ Khoa học - Công nghệ tặng bằng khen, đánh giá là Khu Công nghệ cao thành công nhất trong các Khu Công nghệ cao quốc gia.
DẤU ẤN HÔM NAY
Sau gần 24 năm vận hành và phát triển, SHTP đã trở thành đơn vị dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư công nghệ cao, tiên phong hướng đến mô hình Khu Công nghệ cao không phát thải đầu tiên của cả nước, góp phần đưa Việt Nam đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050.
Kỹ thuật viên vận hành và kiểm tra linh kiện điện tử tại nhà máy Datalogic Việt Nam, Khu Công nghệ cao TPHCM. Ảnh: HOÀNG HÙNG
Kỹ thuật viên vận hành và kiểm tra linh kiện điện tử tại nhà máy Datalogic Việt Nam, Khu Công nghệ cao TPHCM. Ảnh: HOÀNG HÙNG
Một góc Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh HOÀNG HÙNG
Một góc Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh HOÀNG HÙNG
Khu Công nghệ cao TPHCM, nơi tập trung nhiều dự án FDI công nghệ cao và đang đón làn sóng đầu tư mới vào AI, bán dẫn và trung tâm dữ liệu. Ảnh: HOÀNG HÙNG
Khu Công nghệ cao TPHCM, nơi tập trung nhiều dự án FDI công nghệ cao và đang đón làn sóng đầu tư mới vào AI, bán dẫn và trung tâm dữ liệu. Ảnh: HOÀNG HÙNG
Toàn cảnh Khu đô thị Phú Mỹ Hưng. Ảnh: HOÀNG HÙNG
Toàn cảnh Khu đô thị Phú Mỹ Hưng. Ảnh: HOÀNG HÙNG
Thông xe nhánh hầm trên Đại lộ Nguyễn Văn Linh băng qua nút giao Nguyễn Hữu Thọ. Ảnh: QUỐC HÙNG
Thông xe nhánh hầm trên Đại lộ Nguyễn Văn Linh băng qua nút giao Nguyễn Hữu Thọ. Ảnh: QUỐC HÙNG
Khánh thành Đại lộ Nguyễn Văn Linh -
con đường của tầm nhìn mới;
xây dựng Khu dân cư Phú Mỹ Hưng
“CON ĐƯỜNG ĐI TRƯỚC MỞ ĐƯỜNG CHO ĐÔ THỊ”
Trong bối cảnh thành phố đứng trước áp lực giãn dân và mở rộng không gian phát triển, ý tưởng xây dựng một đại lộ chiến lược xuyên khu Nam được hình thành như bước đi đột phá về quy hoạch đô thị. Đại lộ Nguyễn Văn Linh được xác định là “trục xương sống” dẫn dắt toàn bộ quá trình phát triển đô thị phía Nam thành phố.
Khác với tư duy “đô thị đi trước, giao thông chạy theo” trước đây, Thành phố Hồ Chí Minh lần đầu triển khai mô hình “hạ tầng mở đường cho phát triển”. Con đường được xây dựng xuyên qua những vùng đầm lầy hoang hóa.
Dự án đại lộ Nguyễn Văn Linh được triển khai theo hình thức hợp tác giữa thành phố và doanh nghiệp, với vai trò quan trọng của Công ty Liên doanh Phú Mỹ Hưng. Tuyến đường có quy mô hiện đại bậc nhất Việt Nam thời điểm đó, gồm nhiều cầu lớn, hệ thống giao cắt đồng bộ và quỹ đất quy hoạch rộng cho phát triển đô thị lâu dài.
Đại lộ tạo ra “hành lang phát triển” kết nối: Khu đô thị Phú Mỹ Hưng, Khu chế xuất Tân Thuận, các khu công nghiệp, cảng biển và khu dân cư mới phía Nam.
Đây cũng là tuyến đường đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh được quy hoạch đồng bộ với hệ thống đô thị hiện đại, cây xanh, mặt nước và hạ tầng kỹ thuật theo chuẩn quốc tế.
“ĐÁNH THỨC” TOÀN BỘ KHU NAM THÀNH PHỐ
Đại lộ Nguyễn Văn Linh nhanh chóng trở thành động lực tăng trưởng mới của Thành phố Hồ Chí Minh. Từ một vùng đất hoang hóa, khu Nam thành phố chuyển mình mạnh mẽ thành trung tâm đô thị - thương mại - dịch vụ hiện đại với hàng loạt công trình quy mô lớn.
Đại lộ cũng góp phần kết nối giao thương giữa trung tâm thành phố với các tỉnh miền Tây Nam bộ, thúc đẩy phát triển logistics và kinh tế vùng.
Ngày nay, đại lộ Nguyễn Văn Linh là tuyến giao thông huyết mạch, là biểu tượng của tư duy phát triển năng động, dám nghĩ lớn và đi trước thời đại của Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới.
Khánh thành đường hầm
sông Sài Gòn (hầm Thủ Thiêm)
và đại lộ Đông Tây (đại lộ Võ Văn Kiệt)
“MỞ CỬA” PHÍA ĐÔNG THÀNH PHỐ
Trước khi hầm Thủ Thiêm được xây dựng, việc kết nối khu trung tâm quận 1 với bán đảo Thủ Thiêm chủ yếu phụ thuộc vào phà Thủ Thiêm. Tình trạng ùn tắc kéo dài và áp lực phát triển đô thị đặt ra yêu cầu xây dựng một tuyến kết nối hiện đại vượt sông Sài Gòn.
Trong bối cảnh đó, Dự án Đại lộ Đông Tây và hầm vượt sông Sài Gòn được triển khai như một “cú hích chiến lược” nhằm tái cấu trúc không gian đô thị, mở rộng trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh về phía Đông.
Ngày 20-11-2011, hầm Thủ Thiêm chính thức thông xe, đánh dấu lần đầu tiên Việt Nam làm chủ công nghệ xây dựng hầm dìm vượt sông quy mô lớn. Sự kiện này còn mở ra trục kết nối chiến lược giữa trung tâm hiện hữu với Khu đô thị mới Thủ Thiêm được định hướng trở thành trung tâm tài chính, thương mại và dịch vụ quốc tế trong tương lai.
KỲ TÍCH KỸ THUẬT DƯỚI LÒNG SÔNG SÀI GÒN
Hầm Thủ Thiêm được xem là một trong những công trình giao thông phức tạp nhất Việt Nam thời điểm đầu thập niên 2010. Điểm đặc biệt của công trình là công nghệ hầm dìm hiện đại: bốn đốt hầm bê tông cốt thép khổng lồ, mỗi đốt nặng khoảng 27.000 tấn, được đúc tại Nhơn Trạch (Đồng Nai), sau đó lai dắt trên sông Sài Gòn và đánh chìm chính xác xuống lòng sông.
Quá trình thi công đòi hỏi độ chính xác gần như tuyệt đối trong điều kiện thủy văn phức tạp, áp lực dòng chảy lớn và yêu cầu kỹ thuật rất cao. Việc hoàn thành công trình được xem là bước tiến quan trọng của ngành xây dựng và giao thông Việt Nam trong tiếp cận công nghệ hạ tầng hiện đại thế giới.
CÚ HÍCH CHO PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ THỦ THIÊM
Hầm Thủ Thiêm nhanh chóng trở thành tuyến giao thông huyết mạch phía Đông thành phố, rút ngắn thời gian di chuyển giữa quận 1 với thành phố Thủ Đức, tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình phát triển Khu đô thị mới Thủ Thiêm.
Sau hơn một thập niên vận hành, hầm Thủ Thiêm vẫn là công trình hạ tầng mang tính biểu tượng. Cùng với cầu Phú Mỹ, tuyến đại lộ Võ Văn Kiệt và mạng lưới metro đang hình thành, hầm Thủ Thiêm tạo nên nền tảng hạ tầng chiến lược cho quá trình phát triển đô thị thông minh và trung tâm tài chính quốc tế của thành phố trong giai đoạn mới.
Lễ cắt băng khánh thành hầm Thủ Thiêm. Ảnh: VIỆT DŨNG
Lễ cắt băng khánh thành hầm Thủ Thiêm. Ảnh: VIỆT DŨNG
Ảnh: THANH CHIÊU
Ảnh: THANH CHIÊU
Dòng xe lưu thông qua hầm Thủ Thiêm từ quận 2 và ra khỏi miệng hầm phía quận 1. Ảnh: CAO THĂNG
Dòng xe lưu thông qua hầm Thủ Thiêm từ quận 2 và ra khỏi miệng hầm phía quận 1. Ảnh: CAO THĂNG
Miệng hầm Thủ Thiêm. Ảnh: THANH TÂM
Miệng hầm Thủ Thiêm. Ảnh: THANH TÂM
Đại lộ Đông Tây trong lễ thông xe toàn tuyến - Ảnh: CAO THĂNG
Đại lộ Đông Tây trong lễ thông xe toàn tuyến - Ảnh: CAO THĂNG
Khánh thành kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè (2012)
Khánh thành kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè (2012)
Khánh thành dự án cải tạo,
hồi sinh kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè
Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè qua quá trình đô thị hóa cùng tình trạng nhập cư đông đúc đã gây ô nhiễm trầm trọng, Lãnh đạo thành phố đã tiến hành dự án cải tạo, hồi sinh tuyến kênh.
Giai đoạn đầu từ năm 1993-1998, giải tỏa nhà ven kênh và làm hai tuyến đường chạy dọc theo với chiều dài mỗi bên khoảng 8km.
Từ năm 2002-2012, tiến hành nạo vét bùn, lắp đặt tuyến cống bao chạy dọc kênh đến trạm xử lý nước thải, lắp đặt khoảng 70km cống thoát nước trên nhiều tuyến đường, xây dựng trạm bơm nước công suất lớn và nhà máy xử lý nước thải. Cầu Lê Văn Sỹ, cầu Kiệu, cầu Bông cùng các hầm chui được xây dựng nhằm kết nối giao thông nội thành. Cây xanh hai bên đường được trồng cùng với hệ thống máy tập thể dục ngoài trời cho người dân.
● Quá trình vệ sinh, tái tạo kênh được tiến hành qua nhiều giai đoạn, bắt đầu từ năm 1993 và hoàn thành năm 2012.
● Thành phố đã vận động nhiều nguồn lực và lấy ý kiến của dân để triển khai dự án, với sự huy động khoảng 450 triệu USD vốn ODA từ Ngân hàng Thế giới và nhận được sự đồng thuận của người dân. Công trình đã phải di dời hơn 7.000 căn hộ với 50.000 người dân.
● Sau cải tạo, hai tuyến đường ven kênh được đặt tên Hoàng Sa và Trường Sa, trở thành một trong những không gian công cộng đẹp và thông thoáng nhất khu vực nội đô Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau hàng chục năm cải tạo, xử lý môi trường, kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè dài gần 10km đã khoác lên mình “chiếc áo mới”. Nhà cửa hai bên con đường được làm mới, con đường đi bộ sát bờ kè trở thành nơi sinh hoạt nâng cao sức khỏe, đi dạo, tập luyện thể dục dưỡng sinh quen thuộc của người dân. Ngoài ra, tuyến kênh còn là nơi thường xuyên tổ chức nhiều hoạt động văn hóa trên bến dưới thuyền như tổ chức chèo thuyền đưa khách du lịch nước ngoài đi tham quan dưới dòng kênh, chợ bán quà quê ven kênh, hay tổ chức thả hoa đăng, đua ghe ngo. Các hoạt động thả cá, vớt rác… được thực hiện thường xuyên trên toàn tuyến.
Thành công của dự án cải tạo Nhiêu Lộc - Thị Nghè đã trở thành hình mẫu cho nhiều chương trình phát triển đô thị và cải thiện môi trường thiên nhiên của thành phố. Hiện nay, TPHCM đang triển khai các dự án cải tạo hạ tầng, cải thiện môi trường như Rạch Xuyên Tâm, kênh Tham Lương - Bến Cát - Rạch Nước Lên, bờ Bắc Kênh Đôi… và đang xây dựng đề án giải tỏa tất cả 46.000 căn nhà trên và ven kênh rạch nhằm tạo điều kiện an cư cho người dân.
Vận hành tuyến Metro số 1
“GIẤC MƠ” METRO/ CÔNG TRÌNH HẠ TẦNG PHỨC TẠP BẬC NHẤT VIỆT NAM
Sau nhiều năm chuẩn bị, ngày 28-8-2012, Thành phố Hồ Chí Minh chính thức khởi công tuyến Metro số 1 Bến Thành – Suối Tiên, đánh dấu lần đầu tiên Việt Nam triển khai một tuyến đường sắt đô thị quy mô lớn theo tiêu chuẩn quốc tế.
Metro số 1 được xây dựng với tổng chiều dài gần 20km, gồm: 2,6km đi ngầm qua trung tâm thành phố; hơn 17km đi trên cao; 14 nhà ga và depot Long Bình rộng hơn 20ha.
Đây là một trong những công trình hạ tầng có yêu cầu kỹ thuật phức tạp nhất Việt Nam thời điểm triển khai, với nhiều hạng mục thi công ngầm giữa khu vực trung tâm đông dân cư.
Trong quá trình triển khai, Metro số 1 trải qua không ít khó khăn: điều chỉnh vốn đầu tư; vướng mắc giải phóng mặt bằng; thay đổi cơ chế pháp lý; tác động của đại dịch Covid-19; áp lực tiến độ và kỹ thuật.
Hành trình hơn một thập niên xây dựng metro phản ánh quá trình chuyển đổi quản trị đô thị, năng lực điều hành dự án lớn và sự thích nghi của Việt Nam với các chuẩn mực hạ tầng hiện đại quốc tế.
MỞ RA KỶ NGUYÊN GIAO THÔNG CÔNG CỘNG HIỆN ĐẠI
Tuyến metro kết nối trung tâm thành phố với khu Đông – nơi đang phát triển mạnh về công nghệ cao, giáo dục và đô thị sáng tạo – góp phần giảm áp lực giao thông cho xa lộ Hà Nội và các trục đường huyết mạch phía Đông thành phố.
Quan trọng hơn, metro mở ra xu hướng phát triển đô thị theo mô hình TOD (Transit Oriented Development) – lấy giao thông công cộng làm hạt nhân phát triển không gian đô thị.
Dọc tuyến metro, hàng loạt khu đô thị, trung tâm thương mại, cao ốc văn phòng và dự án bất động sản hiện đại đã hình thành, tạo nên diện mạo mới cho Thành phố Hồ Chí Minh.
Cận cảnh quá trình vận hành của tàu khi tiến vào nhà ga Suối Tiên
Cận cảnh quá trình vận hành của tàu khi tiến vào nhà ga Suối Tiên
Các đại biểu Nhật Bản, Việt Nam trải nghiệm chuyến tàu metro chính thức. Ảnh HOÀNG HÙNG
Các đại biểu Nhật Bản, Việt Nam trải nghiệm chuyến tàu metro chính thức. Ảnh HOÀNG HÙNG
Bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Văn Nên cùng Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam tại buổi lễ. Ảnh HOÀNG HÙNG
Bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Văn Nên cùng Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam tại buổi lễ. Ảnh HOÀNG HÙNG
Các đại biểu cầm trên tay tấm thẻ lên tàu, chuẩn bị bước lên chuyến tàu Metro số 1 đầu tiên vận hành chính thức. Ảnh HOÀNG HÙNG
Các đại biểu cầm trên tay tấm thẻ lên tàu, chuẩn bị bước lên chuyến tàu Metro số 1 đầu tiên vận hành chính thức. Ảnh HOÀNG HÙNG
Người dân chờ đợi bên ngoài nhà ga Bến Thành để được trải nghiệm Metro số 1. Ảnh HOÀNG HÙNG
Người dân chờ đợi bên ngoài nhà ga Bến Thành để được trải nghiệm Metro số 1. Ảnh HOÀNG HÙNG










