Nhận diện, xử lý các điều kiện kinh doanh “ẩn”
Tại tổ đại biểu (ĐB) Quốc hội TPHCM, các ý kiến tập trung hiến kế hoàn thiện thể chế, đặc biệt là nhận diện, xử lý các điều kiện kinh doanh “ẩn” đang gây khó khăn cho doanh nghiệp.
ĐB Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Giám đốc Sở Tư pháp TPHCM, đánh giá cao nỗ lực của Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành trong công tác xây dựng thể chế, đặc biệt là xu hướng đột phá cơ chế cho địa phương, song cũng chỉ rõ một số tồn tại, hạn chế trong công tác xây dựng và ban hành văn bản.
Theo ĐB, việc ban hành số lượng lớn văn bản dẫn đến phải sửa đổi, bổ sung liên tục, gây khó khăn cho các cơ quan thực thi, tổ chức và người dân trong việc cập nhật kịp thời, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả thi hành pháp luật. Việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn làm rút ngắn thời gian có hiệu lực của văn bản (nhất là văn bản dưới luật), khiến khâu chuẩn bị các điều kiện triển khai thực hiện gặp nhiều vướng mắc, chưa kịp đáp ứng.
Đặc biệt, tình trạng chậm ban hành văn bản hướng dẫn qua nhiều năm vẫn tồn tại, các giải pháp đưa ra chưa thực sự quyết liệt và chưa đạt yêu cầu mong muốn.
ĐB Đỗ Đức Hiển (hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội), bày tỏ rất ấn tượng về kết quả cắt giảm 53% thời gian thực hiện thủ tục hành chính và 55% chi phí tuân thủ; bãi bỏ 56 và sửa đổi 4 ngành nghề kinh doanh có điều kiện… Tuy nhiên, ĐB cũng cho rằng không ít trường hợp, luật chuyên ngành lại “hồi sinh” các điều kiện kinh doanh "ẩn" dưới nhiều hình thức khác nhau như yêu cầu chứng nhận, chứng chỉ, tiêu chuẩn hoặc bắt buộc phải qua đào tạo/đi học.
ĐB dẫn chứng, trong lĩnh vực kế toán - kiểm toán, mặc dù tuyên bố bỏ điều kiện kinh doanh, nhưng người muốn hành nghề kế toán vẫn bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề. Tương tự, hành nghề đấu giá không còn là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, nhưng thực tế vẫn yêu cầu đấu giá viên phải đi học, thi và được cấp chứng chỉ mới được hành nghề.
“Đề nghị Chính phủ rà soát toàn bộ các luật chuyên ngành để xử lý triệt để, tránh tình trạng bỏ điều kiện kinh doanh "trên giấy" nhưng lại phát sinh các hình thức rào cản mới gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp”, ĐB Đỗ Đức Hiển phát biểu.
Cùng quan điểm chú trọng cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, ĐB Trần Hoàng Ngân (TPHCM) chỉ rõ, 9 tháng năm 2026, toàn xã hội mới huy động được 3,1 triệu tỷ đồng, trong khi kế hoạch cả năm cần từ 5,2 - 5,4 triệu tỷ đồng.
Lo ngại cho sức khỏe của cộng đồng doanh nghiệp, ĐB phân tích, 9 tháng đã có tới 172.118 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Để đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, trung bình mỗi năm cả nước phải tăng ròng 200.000 doanh nghiệp (trong khi những năm qua mỗi năm chỉ tăng ròng khoảng 40.000 - 52.000 doanh nghiệp).
ĐB kiến nghị các giải pháp tập trung vào lĩnh vực tài chính - ngân hàng như hạ lãi suất thực cho doanh nghiệp, trong đó đề nghị Ngân hàng Nhà nước tái cấp vốn dài hạn cho các ngân hàng thương mại đối với các dự án hạ tầng, nhà ở, khu công nghiệp. Đồng thời, tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại nhà nước, giúp khối này phát huy vai trò dẫn dắt thị trường tài chính; kéo giảm giá xăng dầu, giá điện để kiểm soát lạm phát, tạo dư địa cho Ngân hàng Nhà nước nới lỏng chính sách tiền tệ…
Cùng quan điểm, ĐB Tô Huy Vũ (Hà Nội) nhấn mạnh, hạ lãi suất bền vững không chỉ là mệnh lệnh với ngành ngân hàng, mà còn là vấn đề tái cấu trúc kênh dẫn vốn quốc gia để nền kinh tế có vốn dài hạn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. “Ở chiều ngược lại cũng cần tăng cường giám sát, kiểm soát tăng trưởng tín dụng với các tổ chức tín dụng yếu kém, nhất là những ngân hàng có rủi ro thanh khoản cao, đây là các ngân hàng cần vốn bằng mọi giá, họ đẩy lãi suất lên và tạo ra cuộc đua về lãi suất”, ĐB Tô Huy Vũ lưu ý.
Hóa giải áp lực lạm phát
Đồng tình với đánh giá của Chính phủ về bối cảnh thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, nhiều vấn đề mới phát sinh vượt dự báo, làm suy giảm tăng trưởng kinh tế và lạm phát gia tăng, ĐB Phạm Hùng Hưng (Phú Thọ) nhìn nhận, cần có những kịch bản tăng trưởng khác nhau để thích ứng với tình hình.
Theo ĐB Phạm Hùng Hưng, thuật ngữ "tự chủ chiến lược" xuất hiện và được đề cập rất nhiều trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, nhưng qua nghiên cứu báo cáo, vấn đề này chưa thực sự được quan tâm đúng mức. “Đề cập đến tự chủ về năng lượng là chưa đủ. Theo tôi, một quốc gia muốn tự chủ chiến lược thì tất cả các lĩnh vực, ngành nghề đều phải tự chủ, đặc biệt là kinh tế phải tự chủ trước tiên. Bài học kinh nghiệm cho thấy khi thời tiết cực đoan, thiên tai bão lũ, sạt lở đất liên miên, nếu không tự chủ về lương thực, thực phẩm, thiết bị y tế, thuốc men thì làm sao cứu trợ được bà con”.
ĐB đề nghị đưa vào mục tiêu tổng quát của năm 2027 mục tiêu “tự chủ” để có lộ trình triển khai và giải pháp căn cơ thực hiện tự chủ chiến lược.
ĐB Nguyễn Văn Thắng (Hà Nội) đề nghị Chính phủ nghiên cứu cơ chế ưu tiên phát triển nhà ở xã hội cho thuê dài hạn tại các khu vực tập trung đông công nhân; bố trí quỹ đất và kết nối hạ tầng giao thông, trường học, nhà trẻ, y tế, thiết chế văn hóa ngay ở khâu quy hoạch khu công nghiệp, khu đô thị và các dự án nhà ở. Cùng với đó, cần đơn giản hóa các thủ tục tiếp cận nhà ở xã hội, công khai điều kiện thuê, giá thuê và các chi phí liên quan.
ĐB Nguyễn Văn Thắng đề nghị, tăng trưởng phải dựa vào nhiều hơn về năng suất lao động, khoa học công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả sử dụng các nguồn lực. “Chính phủ cần quan tâm bổ sung các giải pháp đo lường và nâng cao chất lượng việc làm, thu nhập thực tế của người lao động, có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất gắn với cải thiện tiền lương, điều kiện việc làm và phúc lợi”, ĐB Nguyễn Văn Thắng nêu.