Các tỉnh, thành ven biển ở Việt Nam ngoài sở hữu những sản vật bản địa, còn là nguồn cội của nhiều câu chuyện văn hóa hấp dẫn, đặc sắc, có thể thu hút những chuyến du thuyền đẳng cấp quốc tế, các đoàn du lịch chất lượng cao ghé thăm, quay trở lại, mang về giá trị kinh tế cao.
Ở đảo núi lửa cổ Lý Sơn (Quảng Ngãi) những ngày tháng 8 yên bình, vợ chồng du khách Jennifer McCallum và Mark Busby kể với chúng tôi về chuyến đi của mình: “Phong cảnh rất đẹp, nhưng con người còn tuyệt vời hơn. Người dân rất tốt bụng, nhiệt tình dù chúng tôi không biết tiếng Việt. Chính họ tạo nên nét đặc biệt”. Hai du khách người Mỹ vượt quảng đường hơn 12.000km bằng tàu du lịch để tìm đến Lý Sơn tìm đến đây sau khi thấy một KOL giới thiệu trên mạng xã hội. Ngoài ngắm cảnh, lặn biển, thưởng thức hải sản và đặc sản bản địa, họ nghe câu chuyện văn hóa với nhiều cung bậc trầm bổng, ly kỳ, đầy cuốn hút.
Để thu hút du khách như vợ chồng bà Jennifer McCallum, người dân cố gắng đưa đặc sản bản địa vào hệ sinh thái du lịch. Cách cảng Sa Kỳ chưa đầy một tiếng bằng tàu cao tốc, Lý Sơn sở hữu cảnh quan, địa chất đặc sắc và những sản vật được tạo nên từ điều kiện tự nhiên riêng biệt, trong đó ngoài hải sản thì đặc trưng nhất là tỏi. Ông Nguyễn Văn Nhật, chủ thương hiệu tỏi sạch Phú Sinh theo tiêu chuẩn VietGAP, cho biết công ty liên kết với hơn 100 hộ dân trên vùng trồng 42ha phát triển nhiều sản phẩm về tỏi. Sản phẩm tỏi trắng được công nhận OCOP 5 sao cấp quốc gia. Công ty hợp tác với gần 40 đơn vị lữ hành, đưa khách tham quan vùng trồng theo mùa, trải nghiệm nhà xưởng lên men và tự tay đóng gói sản phẩm.
Ở Nam Ô, làng chài cổ hơn 700 năm tuổi bên cửa sông Cu Đê đổ ra vịnh Đà Nẵng, cũng đang kể câu chuyện về bản sắc biển. Ông Bùi Thanh Phú, chủ thương hiệu nước mắm Hương Làng Cổ (đạt tiêu chuẩn HACCP), tìm cách kết nối nghề truyền thống với du lịch biển. Nghề làm nước mắm hàng trăm năm cùng những giếng vuông cổ của người Chăm là chất liệu cho du khách tìm hiểu văn hóa làng biển. Ông Phú mong du khách vừa mua được “sản vật tiến vua”, vừa được trải nghiệm những câu chuyện văn hóa từ làng biển trăm năm tuổi.
Tại cảng Chân Mây (TP Huế), địa phương đón 46 chuyến tàu du lịch, với gần 93.000 du khách và 40.000 thành viên thủy thủ đoàn trong năm 2025. Năm 2026, chưa đầy tám tháng đầu năm đã có 88 chuyến tàu với tổng cộng khoảng 286.000 du khách và thủy thủ đoàn.
Theo ông Hoàng Kim Hiệp, Giám đốc Công ty du lịch Vàng Châu Á (Golden Asia Tour), khách tàu biển thường đi qua nhiều quốc gia, được phục vụ đầy đủ dịch vụ cao cấp trên tàu nhưng có ít thời gian tại mỗi điểm đến. Vì vậy, họ thường nghiên cứu kỹ và chọn những trải nghiệm đặc sắc. Tại TP Huế, việc khai thác dòng khách này chủ yếu vẫn là tham quan nhanh các di tích nổi bật. Sản phẩm trải nghiệm và dịch vụ bổ trợ còn hạn chế. Huế còn thiếu bến cảng chuyên biệt kết nối từ cảng Chân Mây đến các điểm mua sắm, ẩm thực, giải trí. Dịch vụ cao cấp rời rạc khiến thời gian lưu trú và mức chi tiêu của khách chưa được khai thác hiệu quả.
“Kinh nghiệm từ Singapore, Thái Lan và Malaysia cho thấy du lịch tàu biển ở Huế nên cải thiện hạ tầng cảng biển, hình thành hệ sinh thái dịch vụ ven cảng, đáp ứng nhu cầu trải nghiệm đa dạng trong thời gian ngắn. Cụ thể, Huế nên chủ động nắm bắt nhu cầu du khách, phối hợp với các đơn vị liên quan kêu gọi đầu tư, xây dựng điểm dừng chân mua sắm, vui chơi, giải trí đạt tiêu chuẩn quốc tế gần cảng Chân Mây; tích hợp ẩm thực, đặc sản, giải trí và công nghệ thực tế ảo giới thiệu di sản Huế. Đồng thời, khai thác hiệu quả các điểm đến như Lăng Cô, Bạch Mã, Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã, biển, suối, thác… để hình thành các tour tuyến hấp dẫn. Việc kết nối với các hãng tàu biển cần đi vào thực chất, hướng tới cơ chế phối hợp thuận lợi, giúp Huế khai thác hiệu quả dòng khách này” - ông Hiệp đề xuất.
“Từ con cá bống thệ phá Tam Giang đến con cua đá đảo Cồn Cỏ” là cách bác sĩ Lê Văn Danh, Giám đốc Trung tâm Y tế Quân dân y đặc khu Cồn Cỏ, gợi mở về việc mở rộng không gian phát triển kinh tế, trong đó có du lịch biển. Trước đây, từ Cửa Việt ra Cồn Cỏ (Quảng Trị) mất gần bốn giờ bằng thuyền gỗ, rồi phải chuyển sang thuyền thúng vào bờ. Nay tàu cao tốc rút hành trình còn khoảng một giờ. Hòn đảo với diện tích khoảng 4km2 này hiện đón khoảng 10.000 du khách mỗi năm, dự kiến có thể tăng trong thời gian tới.
Kể với phóng viên, ông Lê Văn Vĩnh, một trong 43 đoàn viên thanh niên xung phong đầu tiên ra xây dựng đảo, cho biết từ năm 2023, vợ chồng ông kinh doanh nhà hàng hải sản và homestay. Gia đình đang chờ phê duyệt dự án bảo tồn ốc mặt trăng, ốc nón quanh đảo. Nếu được triển khai, vùng mặt nước ven đảo sẽ được khoanh để thả tái tạo hai loài ốc dưới các rạn san hô, hướng đến phục hồi đa dạng sinh học và tạo thêm đặc sản phục vụ du khách.
Theo ông Trần Xuân Anh, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND đặc khu Cồn Cỏ, địa phương chủ trương phát triển nuôi trồng thủy sản công nghệ cao gắn với du lịch. Hàu răng cưa, ốc đá là những đối tượng được ưu tiên bảo tồn, phát triển nhằm gìn giữ đa dạng sinh học và phục vụ du khách. Do không có bãi tắm tự nhiên, Cồn Cỏ có kế hoạch xây dựng bãi tắm nhân tạo để có sản phẩm du lịch mới. Giai đoạn 2026-2030, đặc khu sẽ đón 49 hộ dân từ đất liền, bổ sung nhân lực cho sản xuất và dịch vụ trên đảo. Đề án Phát triển đặc khu Cồn Cỏ mạnh về kinh tế, vững về quốc phòng - an ninh sẽ chuẩn bị cho kế hoạch mở rộng không gian phát triển của đặc khu. Đặc khu Cồn Cỏ sẽ tích cực thu hút đầu tư theo hướng khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế đặc thù về biển đảo, du lịch sinh thái, kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng - an ninh và chủ quyền biển đảo.
Trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đón gần 16 triệu du khách quốc tế. Ông Feinttenie Michel (Pháp), du khách khá đặc biệt khi đã đến Việt Nam 46 lần, nói với chúng tôi: “Việt Nam có nhiều bãi biển đẹp, những hòn đảo xanh giữa biển Đông, có thể ví như thiên đường biển đảo sinh thái của thế giới. Nhiều bãi biển ở Việt Nam cũng đẹp như ở Pháp. Nếu được quy hoạch tốt, dành không gian thoáng đãng cho cộng đồng, tăng cây xanh ven biển và không xâm lấn các bãi cát tự nhiên, Việt Nam sẽ trở thành điểm đến hấp dẫn mà du khách quốc tế không thể bỏ qua”.
Ông Hồ huy Thành, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh
Đa dạng hệ sinh thái, kéo dài mùa du lịch biển
Để đa dạng sản phẩm, nâng chất lượng dịch vụ, tỉnh Hà Tĩnh tập trung bốn nhóm giải pháp. Thứ nhất, hoàn thiện chính sách hỗ trợ quảng bá, chuyển đổi số, đào tạo nhân lực, phát triển lưu trú, cải thiện cảnh quan; khuyến khích doanh nghiệp và cộng đồng đầu tư sản phẩm mới. Thứ hai, tại Thiên Cầm, Xuân Thành, Lộc Hà, Kỳ Xuân, Hải Ninh…, phát triển thêm thể thao biển, trải nghiệm mặt nước, tham quan đảo, cảng cá, chợ đêm, ẩm thực, cắm trại và trải nghiệm cộng đồng. Thứ ba, kết nối du lịch biển với di sản, tâm linh, làng nghề, Ví Giặm, Ca trù, ẩm thực, du lịch sinh thái, nông nghiệp và chăm sóc sức khỏe. Thứ tư, tăng các sự kiện văn hóa, thể thao, lễ hội, ẩm thực vào mùa thấp điểm, kết hợp quảng bá và nâng chất lượng phục vụ. Mục tiêu là “kéo dài mùa biển”, hình thành hệ sinh thái du lịch quanh năm, tăng thời gian lưu trú, chi tiêu và khả năng quay lại của du khách.
Ông Nguyễn Đạo, Phó Chủ tịch UBND đặc khu Lý Sơn
Điện, nước, hạ tầng phải theo kịp du lịch
Lý Sơn cần tiếp tục đầu tư hệ thống điện, nước ngọt để bảo đảm an ninh năng lượng và nguồn nước. Hạ tầng chưa đồng bộ, nhiều công trình giao thông cấp thiết chưa có nguồn lực đầu tư. Đảo có hơn 56 di tích, thắng cảnh, trong đó nhiều nơi xuống cấp, gây khó khăn cho khai thác du lịch văn hóa, lịch sử. Chúng tôi đang tập trung nguồn lực, phối hợp với các sở, ngành và đơn vị để kết nối các thế mạnh của đảo, từng bước đưa Lý Sơn trở thành Khu du lịch quốc gia theo mục tiêu được Bộ Chính trị và Chính phủ đề ra.
Bà Trần Thị Hoài Trâm, Giám đốc Sở Ngoại vụ TP Huế
Định vị bằng hệ giá trị di sản văn hóa Cố đô
Để tạo dấu ấn và tăng sức cạnh tranh với các điểm khác, Huế định vị khác biệt bằng hệ giá trị di sản văn hóa Cố đô. Thứ nhất, xây dựng sản phẩm đặc trưng như tour di sản, ẩm thực cung đình, làng nghề, nghỉ dưỡng cao cấp; đồng thời phân luồng khách theo nhóm nhỏ để bảo đảm chất lượng. Thứ hai, chủ động làm việc với hãng tàu và công ty quản lý điểm đến quốc tế, đưa sản phẩm mang thương hiệu Huế vào hải trình ngay từ khâu thiết kế. Thứ ba, sớm đầu tư bến chuyên dụng cho tàu du lịch cùng dịch vụ mua sắm, ẩm thực tại cảng, tạo ấn tượng đủ hấp dẫn để du khách rời tàu và khám phá Huế. Thứ tư, phát triển thêm sản phẩm tại Tư Hiền, Lập An, Lăng Cô, bổ trợ cho di sản Cố đô và phù hợp với khách có quỹ thời gian ngắn. Thứ năm, ngành du lịch cần phối hợp với các hãng lữ hành lớn, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp Huế chủ động khai thác thị trường từ trước khi khách lên tàu, đưa Huế trở thành điểm dừng chính thức, thay vì điểm ghé phụ trong hành trình.
Ông Trần Sơn Tùng, Giám đốc Công ty Vận tải Sơn Tùng
Đầu tư cho du lịch hiện đại, an toàn
Ở vịnh Quy Nhơn (Gia Lai), dư địa phát triển du lịch biển còn rất lớn, nhưng một số đơn vị còn sử dụng phương tiện cũ, dịch vụ chưa đồng bộ. Doanh nghiệp nên đầu tư phương tiện mới như tàu cao tốc, du thuyền, ca nô thế hệ mới, nâng chất lượng dịch vụ, chú trọng an toàn và đội ngũ vận hành có chứng chỉ chuyên môn. Các tour tắm biển, lặn ngắm san hô, thể thao nước cần được tổ chức chuyên nghiệp, kết hợp ẩm thực và hoạt động về đêm. Đồng thời, nên xây dựng các tuyến du lịch kết nối xuyên vùng, nhất là các điểm đến tại vịnh, đầm, cửa biển Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa), Phú Quốc (tỉnh An Giang).
Nghị quyết 20-NQ/TW xác định nuôi biển là một hướng đột phá, chuyển mạnh sang nuôi công nghiệp, công nghệ cao, xa bờ. Để phát triển, người nuôi cần nguồn giống, công nghệ phù hợp, thị trường và quyền sử dụng khu vực biển ổn định.
Ông Lê Hữu Tình, Phó Giám đốc Công ty TNHH Thủy sản Đắc Lộc (tỉnh Đắk Lắk), nhận định mấu chốt khi vươn khơi nuôi biển là giống và công nghệ. Con giống phải thích nghi, tăng trưởng tốt, đáp ứng nhu cầu thị trường và hạn chế dịch bệnh. Cá chim vây vàng và cá bớp được doanh nghiệp lựa chọn làm hai đối tượng chiến lược. Để thích ứng với sóng gió xa bờ, doanh nghiệp lựa chọn lồng bằng vật liệu HDPE; đồng thời ứng dụng công nghệ sinh học, số hóa dữ liệu lồng bè, thiết bị và máy móc vận hành. “Đến năm 2045, doanh nghiệp hướng tới mô hình nuôi biển công nghiệp quy mô hàng hóa, hình thành các “cánh đồng mẫu lớn trên biển” để đáp ứng đủ nguyên liệu chế biến và xuất khẩu trực tiếp” - ông Tình cho biết. Trước mắt, doanh nghiệp đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt 1.000 tấn cá thương phẩm mỗi năm, hoàn thiện truy xuất nguồn gốc từ vùng sản xuất đến bàn ăn và mở rộng thị trường xuất khẩu. Theo ông Tình, vì quy hoạch chậm triển khai khiến doanh nghiệp chưa có cơ sở rõ ràng để được giao mặt nước, xác định vùng nuôi và đầu tư dài hạn. Vì vậy, cần cụ thể hóa quy hoạch, đặc biệt là vùng nuôi cá bố mẹ để chủ động nguồn giống chất lượng.
Ngoài Đắk Lắk, nhiều địa phương cũng đang xây dựng “cánh đồng mẫu lớn trên biển”. Đến Quảng Ninh, chúng tôi chứng kiến nghề nuôi biển đang chuyển từ nhỏ lẻ sang quy mô công nghiệp. Tỉnh dành hơn 45.000ha vùng biển để tích hợp vào Quy hoạch tỉnh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050; đồng thời đề xuất bổ sung gần 95.000ha, nâng tổng diện tích quy hoạch nuôi biển lên gần 140.000ha. Tại Vân Đồn, Hợp tác xã Cường Hoa chuyển từ lồng gỗ sang lồng HDPE để nuôi cá chim vây vàng. Theo ông Nguyễn Văn Cường, Giám đốc hợp tác xã, sau 10 tháng thả giống, năng suất đạt trên 19kg/m³, lợi nhuận tăng 13% so với phương pháp truyền thống, đồng thời giảm ô nhiễm và dịch bệnh. Cũng tại Vân Đồn, Công ty cổ phần Tập đoàn STP Group hợp tác với 21 hợp tác xã xây dựng chuỗi khép kín từ vùng nuôi, sơ chế đến xuất khẩu. Doanh nghiệp hướng tới ứng dụng lồng HDPE cải tiến, năng lượng tái tạo và kinh tế tuần hoàn để giảm phát thải, kết hợp du lịch trải nghiệm. STP Group kiến nghị có tín dụng ưu đãi riêng cho nuôi biển công nghệ cao, rút ngắn thủ tục cấp phép, thủ tục về môi trường và xây dựng bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Hải Phòng cũng định hướng tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung với hơn 23.900ha mặt nước. Trong đó Tiên Lãng có gần 1.900 ha nuôi nhuyễn thể; vùng mặn lợ tập trung các đối tượng chủ lực như tôm sú, tôm thẻ chân trắng. Theo kế hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn 2045, thành phố ổn định nghề nuôi cá lồng bè tại Cát Hải, phát triển nuôi biển xa bờ theo hướng công nghiệp tại Cát Bà - Bạch Long Vĩ, gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Thành phố đề nghị Trung ương hỗ trợ đầu tư hạ tầng vùng nuôi ven biển và ngoài khơi để chuyển đổi công nghệ, nâng quy mô và giá trị sản xuất.
Ông Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, nhận định người nuôi phải được giao quyền sử dụng khu vực biển lâu dài, cùng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn rõ ràng, mới yên tâm đầu tư lớn và ứng dụng công nghệ hiện đại. Cả nước hiện có gần 10.000 cơ sở nuôi biển, nhưng chủ yếu tập trung trong phạm vi 3 hải lý; phần lớn sử dụng công nghệ truyền thống. Một số mô hình nuôi tuần hoàn (RAS), nuôi đa dinh dưỡng tích hợp (IMTA), lồng HDPE và dự án nuôi xa bờ trên 3 hải lý đã cho kết quả khả quan.
Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Trần Đình Luân cho rằng nuôi biển đã có bước tiến nhưng tổ chức sản xuất chưa mạnh. Một mắt xích quan trọng đang được xây dựng, bổ sung là Tiêu chuẩn Việt Nam dành riêng cho cơ sở nuôi biển công nghiệp, do Cục Thủy sản và Kiểm ngư xây dựng và vừa tổ chức lấy ý kiến từ giới chuyên gia hồi cuối tháng 6-2026. Tiêu chuẩn được kỳ vọng tạo cơ sở thống nhất cho quy hoạch, thiết kế, xây dựng, vận hành và quản lý trang trại nuôi biển quy mô lớn; từ đó thu hút đầu tư, phát triển bảo hiểm và quản lý rủi ro trong chuỗi sản xuất.
Theo ông Phùng Đức Tiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, phát triển nuôi biển công nghiệp là trụ cột trong chiến lược phát triển kinh tế biển bền vững nhằm giảm áp lực khai thác ven bờ, gia tăng giá trị xuất khẩu và vị thế thủy sản Việt Nam. Cần sớm ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn, thu hút doanh nghiệp có tiềm lực và công nghệ để tiến ra xa bờ.
Xây dựng chuỗi cung ứng hiện đại để dân tăng thu nhập
Ông Hồ huy Thành, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh, cho biết khó khăn hiện nay của địa phương là sản xuất còn nhỏ lẻ, đầu tư nghiên cứu phát triển (R&D) và chế biến sâu hạn chế; 11 doanh nghiệp đầu tư nuôi tôm nhưng chưa hình thành chuỗi liên kết hoàn chỉnh từ sản xuất đến tiêu thụ. Vì vậy, tỉnh đang chuyển sang các mô hình nuôi ven biển ứng dụng công nghệ cao, thích ứng biến đổi khí hậu như nuôi tôm thâm canh, cua biển bằng hệ thống lọc tuần hoàn (RAS), bể tròn lót bạt, ao mái che, nuôi tôm 2-3 giai đoạn.
Trước hết, tỉnh sẽ triển khai nền tảng số, ứng dụng AI, Internet vạn vật (IoT) để giám sát môi trường nuôi, dự báo thời tiết, cảnh báo sớm dịch bệnh; thu hút doanh nghiệp ứng dụng công nghệ sinh học, phát triển giống sạch bệnh, thích ứng biến đổi khí hậu. Tỉnh ưu tiên thu hút các tập đoàn lớn đầu tư vùng nuôi tập trung và nhà máy chế biến sâu, tạo sản phẩm giá trị gia tăng thay vì chủ yếu tiêu thụ, xuất khẩu sản phẩm thô; hỗ trợ ứng dụng Blockchain, IoT trong quản trị sản xuất và truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế. Hà Tĩnh cũng nghiên cứu cơ chế sandbox (thí điểm) để doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ, mô hình kinh doanh mới trong nuôi biển và chế biến; hỗ trợ xây dựng các tiêu chuẩn ISO, HACCP, phát triển thương hiệu và tài sản trí tuệ. Cùng với đó, tỉnh tập trung hoàn thiện hạ tầng vùng nuôi về giao thông, điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải; tăng liên kết doanh nghiệp - hợp tác xã - người nuôi, hình thành vùng nguyên liệu quy mô lớn gắn với chế biến và thị trường. Mục tiêu là xây dựng chuỗi nuôi trồng - chế biến - tiêu thụ thủy sản công nghệ cao, nâng năng suất, giá trị xuất khẩu và thu nhập cho người dân.