Chứng chỉ IELTS không nên là "quyền lực mềm" để lách qua các môn học cốt lõi khác

Như Báo SGGP đã đưa tin, mới đây Bộ GD-ĐT công bố vừa dự thảo về sửa đổi quy định tuyển sinh. 2 dự kiến thay đổi được quan tâm nhất là siết phương thức tuyển sinh và không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định. Nhiều học sinh lo mất lợi thế nếu bỏ cộng điểm IELTS.

Thí sinh thi vào đại học có thể không được cộng điểm cho chứng chỉ IELTS. Ảnh: KIỀU TRINH
Thí sinh thi vào đại học có thể không được cộng điểm cho chứng chỉ IELTS. Ảnh: KIỀU TRINH

Bỏ cộng điểm IELTS: Sẽ không còn điểm chuẩn đại học 31, 32 điểm?

Lý giải đề xuất không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định cho thành tích, chứng chỉ hoặc tiêu chí bổ sung, GS-TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD-ĐT), cho rằng, trên thực tế, điểm cộng có thể tạo bất bình đẳng. Cùng một loại chứng chỉ nhưng mức quy đổi, mức cộng và tổ hợp áp dụng lại khác nhau giữa các trường..

Vì vậy, nguyên tắc là một năng lực được ghi nhận một lần, theo cùng quy tắc đối với mọi thí sinh. Thí sinh có chứng chỉ năng lực ngoại ngữ vẫn có thể được quy đổi vào môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển, khi đó, chứng chỉ được sử dụng như một minh chứng năng lực có liên quan trực tiếp, thay vì trở thành một khoản điểm cộng ngoài thang đo.

Trong khi đó, đón nhận thông tin Bộ GD-ĐT dự kiến quy định không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định (trong đó có cộng điểm cho chứng chỉ IELTS), nhiều phụ huynh, thí sinh đang rất hoang mang. Nhiều thí sinh lo mất lợi thế nếu bỏ cộng điểm IELTS.

Chị Phạm Thị Thu Hà (Hà Đông, Hà Nội) cho biết, con chị năm nay bước vào lớp 11, thời gian qua cũng tham gia các khóa học IELTS để có chứng tạo tạo lợi thế khi xét tuyển đại học. “Cháu vẫn đang học, nay thấy bộ dự kiến như vậy, tôi đang băn khoăn việc có nên tiếp tục đầu tư học và thi không, vì học cũng tốn thời gian và cả tiền bạc”, chị Thu Hà do dự. Dù nhận được nhiều ý kiến động viên tiếp tục cho con học và thi, nhưng theo chị Thu Hà, việc Bộ GD-ĐT thay đổi phải có lộ trình để người học có đủ thời gian thích nghi, chuẩn bị, đơn cử phải công bố thay đổi trước 3 năm - khi học sinh vào 10 để có sự chuẩn bị.

2.png
Với điều kiện học thuận lợi, học tiếng Anh đã phổ biến hơn. Ảnh: TRẦN MẠNH

Dự kiến này cũng nhận được sự quan tâm của nhiều nhà giáo, chuyên gia. Thầy Vũ Khắc Ngọc (Hà Nội) đặt câu hỏi: việc bỏ cộng điểm cho chứng chỉ IELTS là “hơi cực đoan quá”?. Theo thầy Vũ Khắc Ngọc, điểm cộng chứng chỉ cho IELTS có thể giảm đi và chỉ nên áp dụng cho các chương trình đào tạo có thời lượng giảng dạy bằng tiếng Anh trên 50% chẳng hạn, không nên bỏ hoàn toàn việc cộng điểm chứng chỉ IELTS, bởi để đạt chứng chỉ IELTS, các em cũng phải nỗ lực, quyết tâm rất lớn.

Tuy vậy, TS Lê Thống Nhất (chuyên gia giáo dục) nêu quan điểm, những phương thức xét tuyển mà phải có tiền đi học lấy chứng chỉ thì nên bỏ.

Một số chuyên gia giáo dục cũng đồng tình nên bỏ điểm cộng chứng chỉ IELTS, nhất là học sinh vùng nông thôn, điều kiện khó khăn không thể chạy đua thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy, thi chứng chỉ IELTS.

Trao đổi với SGGP, PGS-TS Trần Thành Nam, Hiệu trưởng Trường ĐH Giáo dục (ĐH Quốc gia Hà Nội) cũng đồng tình bỏ cộng điểm chứng chỉ ngoại ngữ, bởi trong bối cảnh hiện nay, với điều kiện học thuận lợi, học tiếng Anh đã phổ biến, thì việc có chứng chỉ ngoại ngữ không còn thể hiện năng lực vượt trội của thí sinh như những giai đoạn trước, chứng chỉ IELTS cũng không đảm bảo cho một cá nhân phát huy được tiềm năng tốt hơn người khác, ngược lại có thể mang tính chất bất bình đẳng. Do đó, chứng chỉ IELTS chỉ nên được khuyến khích, ví dụ được quy đổi vào môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển.

Theo TS Hoàng Phương - Trưởng chương trình Tiếp thị kỹ thuật số và Truyền thông xã hội, Trường Đại học Anh quốc Việt Nam (BUV), việc các trường tự cộng điểm cho IELTS, SAT hay giải thưởng phụ từng tạo ra sự bất bình đẳng lớn, đặc biệt gây bất lợi cho thí sinh ở các khu vực thiếu điều kiện tiếp cận các trung tâm luyện thi đắt đỏ. Do đó, nếu chuyển chứng chỉ ngoại ngữ thành điểm thành phần quy đổi hoặc tiêu chí sàn (điều kiện cần) thay vì cộng điểm "vượt khung" sẽ chấm dứt tình trạng điểm xét tuyển vượt quá thang điểm chuẩn (ví dụ: 31, 32 điểm trên thang 30). Điều này trả các chứng chỉ quốc tế về đúng chức năng của chúng: một thước đo năng lực ngôn ngữ hoặc tư duy chuẩn hóa, chứ không phải một loại "quyền lực mềm" để lách qua các môn học cốt lõi khác.

1.png
Chứng chỉ IELTS không nên là một loại "quyền lực mềm" để lách qua các môn học cốt lõi khác? Ảnh: TRẦN MẠNH

Chứng chỉ IELTS chỉ nên đóng vai trò là "tấm vé qua cửa" (tiêu chí sàn)

Bình luận về hệ quả của thay đổi này, TS Hoàng Phương cho rằng, sự thay đổi của quy định tuyển sinh buộc chiến lược của học sinh và phụ huynh phải chuyển dịch từ việc "tích lũy điểm cộng và rải thảm" sang "định hướng sớm và tập trung thực chất".

Trước sự hoang mang của phụ huynh, thí sinh hiện nay, TS Hoàng Phương khuyến nghị, người học cần có sự thay đổi trong chiến lược ứng tuyển. Theo đó, nên dừng "sưu tầm" chứng chỉ mà tập trung vào năng lực lõi. IELTS, SAT hay các chứng chỉ quốc tế sẽ trở về đúng chức năng là một môn học quy đổi điểm hoặc tiêu chí sàn (ví dụ yêu cầu đầu vào tối thiểu IELTS 6.0).

Thí sinh nên hoàn thành các bài thi chuẩn hóa quốc tế (IELTS, SAT, ACT) chậm nhất vào cuối học kỳ 2 lớp 11. Các chứng chỉ này sẽ đóng vai trò là "tấm vé qua cửa" (tiêu chí sàn) hoặc điểm môn học quy đổi. Việc giải quyết xong ngoại ngữ sẽ giải phóng áp lực khổng lồ cho năm lớp 12. Phụ huynh cần ngừng việc ép học sinh chạy đua học thêm nhiều loại chứng chỉ, giải thưởng phụ hay chứng nhận ngoại khóa kém chất lượng chỉ để "săn" điểm cộng. Thời gian và nguồn lực tài chính tiết kiệm được từ việc luyện thi chứng chỉ tràn lan nên được dồn vào việc rèn luyện tư duy sâu và kiến thức vững chắc ở các môn học thế mạnh; thí sinh cần chuyển đổi phương pháp học từ việc ghi nhớ máy móc sang tư duy phản biện và giải quyết vấn đề...

Tin cùng chuyên mục