Những thay đổi lớn
Theo dự thảo, Bộ GD-ĐT dự kiến cơ sở đào tạo đại học được sử dụng tối đa 5 phương thức tuyển sinh; mỗi ngành đào tạo, chương trình đào tạo sử dụng 3 phương thức tuyển sinh - áp dụng từ năm 2027 và 1 phương thức tuyển sinh - áp dụng từ năm 2028. Bên cạnh đó, dự thảo đề xuất không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định cho thành tích, chứng chỉ hoặc tiêu chí bổ sung.
Ngoài ra, Bộ GD-ĐT dự kiến xác định rõ nguồn tuyển và ngưỡng đầu vào, yêu cầu chuẩn hóa độ lệch giữa các tổ hợp, không yêu cầu thí sinh nộp lại giấy tờ, chứng chỉ có trên hệ thống...
GS-TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ GD-ĐT), cho rằng, những quy định thay đổi nhằm hoàn thiện phương án tổng thể đổi mới thi, kiểm tra và tuyển sinh theo hướng thực chất, gọn nhẹ, giảm chi phí. Các điều chỉnh trong dự thảo được đề xuất không nhằm thu hẹp cơ hội của thí sinh hoặc làm giảm quyền tự chủ của cơ sở đào tạo.
Mục tiêu là đưa các thí sinh dự tuyển vào cùng một ngành, một chương trình về cùng chuẩn đánh giá; giảm thủ tục, giảm chi phí, tăng khả năng kiểm chứng và bảo đảm công bằng.
Theo GS-TS Nguyễn Tiến Thảo, trong giai đoạn 2022-2026, các điều chỉnh về tuyển sinh như bỏ xét tuyển sớm, quy đổi tương đương, giới hạn số phương thức, quy định ngưỡng đầu vào và mức điểm cộng tối đa đã tạo chuyển biến tích cực.
Đặc biệt, với các kỳ thi có bảng quy đổi chính thức, khoảng cách điểm với điểm thi tốt nghiệp THPT đã giảm từ 2,6 xuống 1,2 điểm. Tuy nhiên, sự tương đương chưa đồng đều. Thống kê cho thấy, trên 40% tổng số chương trình đào tạo sử dụng từ 2 phương thức vẫn có biên độ điểm từ 3 điểm trở lên.
Lý giải đề xuất không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định cho thành tích, chứng chỉ hoặc tiêu chí bổ sung, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học nêu ý kiến, trên thực tế, điểm cộng có thể tạo bất bình đẳng. Cùng một loại chứng chỉ nhưng mức quy đổi, mức cộng và tổ hợp áp dụng lại khác nhau giữa các trường. Đồng thời, một năng lực có thể được ghi nhận hai lần (vừa là thành phần điểm xét tuyển, vừa được cộng thêm), làm thay đổi cơ hội trúng tuyển của thí sinh…
Trên các diễn đàn giáo dục, hàng ngàn ý kiến của thí sinh, phụ huynh quan tâm đến dự kiến thay đổi về quy chế tuyển sinh đại học của Bộ GD-ĐT. Có ý kiến đồng tình với việc Bộ GD-ĐT siết phương thức xét tuyển, nhưng cũng có nhiều ý kiến phản đối, cho rằng sẽ làm giảm cơ hội của thí sinh.
Nhiều phụ huynh cũng cho rằng việc thay đổi liên tục về quy chế tuyển sinh sẽ khiến thí sinh hoang mang, đề nghị việc thay đổi phải có lộ trình để tránh “gây sốc”, phải có kế hoạch trước 3 năm - khi học sinh vào 10 để có sự chuẩn bị.
Phải có thời gian chuẩn bị
PGS-TS Trần Thành Nam, Hiệu trưởng Trường ĐH Giáo dục (ĐH Quốc gia Hà Nội), chia sẻ, về cơ bản, ông ủng hộ siết phương thức tuyển sinh. Thực tế, với một nhóm ngành sử dụng nhiều phương thức, chỉ có một số phương thức tuyển sinh hiệu quả. Chưa kể, những ngành mang yếu tố đặc thù (như đòi hỏi năng khiếu) thì cần phương thức tuyển sinh phù hợp.
Để xã hội đồng thuận, việc triển khai bảo đảm hiệu quả, Bộ GD-ĐT cần tiếp tục tổ chức hội thảo, lấy ý kiến, có minh chứng rõ ràng tạo sự thuyết phục; đồng thời phải có lộ trình, có kế hoạch để triển khai.
Về quy định siết phương thức xét tuyển, ThS Nguyễn Thị Kim Phụng, Phó Giám đốc Trung tâm tuyển sinh và quan hệ doanh nghiệp, Trường ĐH Tài chính Marketing TPHCM, nói rằng, thực tế những năm qua, việc một ngành sử dụng nhiều phương thức tuyển sinh, nhiều thang đo khác nhau đã làm cho công tác quy đổi tương đương khá phức tạp và đôi khi khiến thí sinh khó xác định chính xác cơ hội của mình.
Tuy nhiên, việc giảm số phương thức xét tuyển cần có lộ trình phù hợp và đủ ổn định, bởi học sinh phải chuẩn bị cho tuyển sinh từ khá sớm. Quan trọng hơn, mỗi phương thức phải thực sự đo được năng lực đầu vào phù hợp với chương trình đào tạo và bảo đảm cơ hội tiếp cận bình đẳng cho thí sinh.
ThS Phạm Thái Sơn, Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và truyền thông, Trường ĐH Công thương TPHCM, cho rằng, nếu bỏ các điểm cộng do các trường quy định thì các trường đại học khó dùng IELTS, giải học sinh giỏi… như một cách để thu hút một nhóm thí sinh.
Cạnh tranh tuyển sinh sẽ dựa vào chất lượng, chương trình đào tạo, học phí, học bổng, cơ sở vật chất, môi trường học tập, cơ hội việc làm, liên kết doanh nghiệp và thương hiệu… Tuy nhiên, thay đổi này phải có thời gian để chuẩn bị, ít nhất là 3 năm, vì học sinh đã có kế hoạch cụ thể cho học Anh văn, thi học sinh giỏi... từ khi bắt đầu lớp 10. Thay đổi này nên tính cho năm 2029 và quy định đó phải có tính lâu dài.
* PGS -TS BÙI HOÀI THẮNG, Trưởng Phòng Đào tạo, Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TPHCM):
Cần lộ trình dài và tránh thay đổi từng năm
Việc hướng đến 1 phương thức xét tuyển cho một ngành/chương trình không ảnh hưởng đến công tác tuyển sinh của trường cũng như các trường sử dụng phương thức tổng hợp. Tuy nhiên, cần phải bảo đảm tính công bằng và khả năng tiếp cận với các kỳ thi khác thi tốt nghiệp THPT.
Việc bỏ điểm cộng và một số yêu cầu khác nhằm đảm bảo phù hợp với Luật Giáo dục đại học năm 2025 và thực tiễn vận hành. Tuy vậy, cần xem xét kỹ tính lôgic của các yêu cầu. Ví dụ như yêu cầu xác định trước “độ lệch điểm” khi công bố thông tin tuyển sinh có thể không khả thi. Hay yêu cầu quy đổi về thang điểm 30 khi chỉ còn 1 phương thức tuyển sinh là không cần thiết.
Theo tôi, về lâu dài, ở góc độ quản lý, chính sách tuyển sinh cần một lộ trình dài là việc nên làm, tránh các thay đổi từng năm.
* TS NGUYỄN QUỐC ANH, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Công nghệ TPHCM:
Hạn chế những xáo trộn không cần thiết
Theo tôi, tuyển sinh đại học có một đặc thù là thay đổi ở thời điểm hiện tại nhưng sự chuẩn bị của học sinh đã bắt đầu từ nhiều năm trước. Vì vậy, với những điều chỉnh lớn liên quan trực tiếp đến phương thức và điều kiện xét tuyển, cần có lộ trình phù hợp và được thông tin sớm. Mục tiêu cuối cùng vẫn phải là bảo đảm quyền lợi của người học và hạn chế những xáo trộn không cần thiết đối với học sinh, phụ huynh cũng như các cơ sở giáo dục.
Về phương thức xét tuyển, điều quan trọng không phải là trường có bao nhiêu phương thức, mà phương thức được lựa chọn có đánh giá đúng năng lực cần thiết của thí sinh đối với ngành học đó hay không. Các trường cần dựa trên đặc thù ngành đào tạo, yêu cầu đầu vào và cả dữ liệu tuyển sinh, kết quả học tập của sinh viên trong những năm trước để có cơ sở lựa chọn phù hợp.
* Thầy ĐẶNG THANH HUÂN, giáo viên dạy môn Tiếng Anh, Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ (TPHCM):
Một cơ chế quy đổi thống nhất về chứng chỉ ngoại ngữ
Tôi đồng tình với mục tiêu của dự thảo trong việc bảo đảm công bằng, minh bạch trong tuyển sinh và hạn chế tình trạng một năng lực được ghi nhận nhiều lần thông qua cả quy đổi điểm và điểm cộng. Trước hết, tôi kiến nghị Bộ GD-ĐT nghiên cứu một cơ chế quy đổi thống nhất về chứng chỉ ngoại ngữ, minh bạch và có tính phân hóa trên phạm vi toàn quốc.
Cùng với đó, Bộ GD-ĐT cần có lộ trình chuyển tiếp phù hợp nhằm bảo đảm quyền lợi của những học sinh đã và đang đầu tư thời gian, kinh phí để đạt chứng chỉ ngoại ngữ theo các quy định tuyển sinh hiện hành. Không nhất thiết phải cộng điểm cho chứng chỉ ngoại ngữ, nhưng cần bảo đảm năng lực ngoại ngữ được đánh giá đúng, ghi nhận đúng và sử dụng đúng mục đích.
THANH HÙNG - THU TÂM ghi