Cải thiện không gian phát triển kinh tế nội địa

Nhìn vào bức tranh doanh nghiệp 9 tháng đầu năm mà Cục Thống kê (Bộ Tài chính) vừa cung cấp, có thể thấy, các chỉ số vĩ mô về sản xuất và thương mại tăng trưởng khả quan, song “sức sống”, gia nhập thị trường của khối doanh nghiệp dường như chưa gia tăng tương xứng.

Số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động giảm 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn và số ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể đều giảm, nhưng số hoàn tất thủ tục giải thể lại tăng tới gần 119% - phản ánh sự dịch chuyển dứt khoát từ trạng thái “ngủ đông” sang “khai tử” vĩnh viễn. Hai ngành kinh tế trụ cột chiếm tỷ trọng áp đảo của nền kinh tế là công nghiệp chế biến, chế tạo và bán buôn/bán lẻ đều ghi nhận sự sụt giảm về số lượng doanh nghiệp thành lập mới.

Sự rút lui của các doanh nghiệp đến từ hai nhóm nguyên nhân chính. Nhóm nguyên nhân thứ nhất đến từ yếu tố quản lý nhà nước và có thể coi là tích cực, xuất phát từ chiến dịch “Làm sạch mã số thuế”. Chiến dịch đã đẩy nhanh việc giải thể, thu hồi mã số thuế của các doanh nghiệp “ma”, doanh nghiệp treo tài khoản lâu năm. Nhóm nguyên nhân chủ quan thứ hai, đáng lo ngại, là chi phí tuân thủ vẫn cao; tiếp cận tín dụng khó khăn cùng tâm lý phòng thủ làm gia tăng tình trạng thu hẹp sản xuất.

Ở phía khách quan, phải kể đến áp lực từ thương mại điện tử xuyên biên giới và sự nở rộ của các tập đoàn bán lẻ ngoại. Bên cạnh đó, ngành chế biến, chế tạo đang phải đối mặt với những rào cản “xanh”, từ điều chỉnh biên giới carbon, tiêu chuẩn ESG, đến các quy định phòng cháy chữa cháy, kiểm soát xả thải nghiêm ngặt. Hầu hết doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước thiếu vốn, công nghệ để đáp ứng.

Tiếp sức cho doanh nghiệp Việt dĩ nhiên là việc cần làm, song bài toán đặt ra là phải xây dựng giải pháp chính sách khéo léo, vừa giữ vững “không gian sinh tồn” cho kinh tế nội, vừa duy trì môi trường thu hút FDI hấp dẫn.

Theo TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, nhiều quốc gia đã áp dụng giải pháp rào cản kỹ thuật và quản lý thuế bình đẳng nhằm đảm bảo công bằng thuế giữa hàng ngoại nhập và hàng sản xuất nội địa.

Cụ thể là bãi bỏ ưu đãi miễn thuế giá trị gia tăng đối với hàng nhập khẩu giá trị nhỏ (dưới 1 triệu đồng) qua thương mại điện tử xuyên biên giới; siết chặt kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật và nguồn gốc xuất xứ tại các kho ngoại quan và cửa khẩu. Theo ông, việc áp dụng hàng rào kỹ thuật bình đẳng cho mọi mặt hàng lưu thông trên thị trường hoàn toàn phù hợp với các quy định của WTO.

Bên cạnh đó, cần củng cố cơ chế liên kết FDI gắn với cam kết nội địa hóa: gắn các chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất cho các tập đoàn FDI lớn với tỷ lệ chuyển giao công nghệ thực chất và tỷ lệ sử dụng nhà cung cấp cấp 1, cấp 2 là doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam, để doanh nghiệp Việt trở thành mắt xích bền vững trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Các biện pháp trợ lực khác có thể áp dụng mà vẫn đảm bảo đối xử công bằng với mọi loại hình doanh nghiệp là thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng và quỹ hỗ trợ chuyển đổi xanh. Nhà nước đứng ra chia sẻ rủi ro tín dụng, hỗ trợ tư vấn kỹ thuật và tài chính để các doanh nghiệp nhỏ và vừa nội địa nâng cấp nhà xưởng, đáp ứng quy chuẩn xanh; hỗ trợ chuyển đổi số và đơn giản hóa thủ tục kế toán - thuế cho các hộ kinh doanh cá thể chuyển đổi thành doanh nghiệp, tránh dùng các biện pháp cưỡng chế hành chính cứng nhắc.

Bằng việc kết hợp hài hòa giữa kiểm soát kỹ thuật hợp chuẩn, gắn kết FDI có điều kiện và trợ lực năng lực nội tại, Việt Nam hoàn toàn có thể giữ vững “sân nhà” mà không làm ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao.

Tin cùng chuyên mục