Bí thư Thành ủy TPHCM Trần Lưu Quang cùng đoàn công tác khảo sát tiến độ thực hiện dự án Khu đô thị du lịch lấn biển Cần Giờ. Ảnh VIỆT DŨNG
Bí thư Thành ủy TPHCM Trần Lưu Quang cùng đoàn công tác khảo sát tiến độ thực hiện dự án Khu đô thị du lịch lấn biển Cần Giờ. Ảnh VIỆT DŨNG
Khu vực thị trấn Cần Thạnh, huyện Cần Giờ và vùng biển xung quanh
Khu vực thị trấn Cần Thạnh, huyện Cần Giờ và vùng biển xung quanh
Phối cảnh Khu đô thị lấn biển Cần Giờ. Ảnh Sở QH-KT TPHCM
Phối cảnh Khu đô thị lấn biển Cần Giờ. Ảnh Sở QH-KT TPHCM
Huyện Duyên Hải (Cần Giờ) sáp nhập vào Thành phố Hồ Chí Minh
SỰ KIỆN
Quốc hội khóa VI ban hành nghị quyết phê chuẩn việc sáp nhập huyện Duyên Hải từ tỉnh Đồng Nai vào Thành phố Hồ Chí Minh.
BỐI CẢNH
Cần Giờ ngày nay, trước đây mang tên Duyên Hải, là vùng đất ven biển có vị trí chiến lược quan trọng ở cửa ngõ Đông Nam Thành phố Hồ Chí Minh. Trước năm 1975, đây là khu vực căn cứ quân sự tiền tiêu của chính quyền Sài Gòn, kiểm soát tuyến đường thủy từ Biển Đông vào nội đô.
Trong chiến tranh, khu vực này chịu ảnh hưởng nặng nề bởi bom đạn và chất độc hóa học. Hơn 2 triệu tấn bom đạn và khoảng 4 triệu lít chất độc hóa học đã tàn phá hệ sinh thái rừng ngập mặn, khiến môi trường tự nhiên bị biến đổi nghiêm trọng.
Sau ngày đất nước thống nhất, huyện Duyên Hải được thành lập trên cơ sở quận Cần Giờ và quận Quảng Xuyên, thuộc tỉnh Đồng Nai. Địa phương khi đó đối mặt với nhiều khó khăn về hạ tầng, giao thông, y tế, giáo dục và đời sống dân cư; toàn huyện chủ yếu đi lại bằng đường thủy và chỉ có khoảng 13km đường bộ nối thị trấn Cần Thạnh với xã Long Hòa.
QUÁ TRÌNH SÁP NHẬP
Ngày 12-1-1978, tại phiên họp của Thường vụ Hội đồng Chính phủ do Thủ tướng Phạm Văn Đồng chủ trì, Chính phủ quyết định sáp nhập huyện Duyên Hải từ tỉnh Đồng Nai về Thành phố Hồ Chí Minh.
Tiếp đó, từ ngày 27 đến 28-2-1978, đoàn đại biểu Thành phố Hồ Chí Minh do đồng chí Nguyễn Thành Thơ, Phó Bí thư Thành ủy kiêm Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh, dẫn đầu đã thực hiện việc tiếp nhận bàn giao huyện Duyên Hải từ tỉnh Đồng Nai.
Ngày 29-12-1978, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa VI, nghị quyết phê chuẩn huyện Duyên Hải chính thức sáp nhập vào Thành phố Hồ Chí Minh được thông qua. Thời điểm đó, huyện có diện tích khoảng 66.800ha với dân số hơn 32.900 người.
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
Sau khi sáp nhập, huyện tiếp tục mang tên Duyên Hải cho đến ngày 18-12-1991, khi Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 405-HĐBT đổi tên huyện thành Cần Giờ, khôi phục tên gọi lịch sử của địa phương.
Qua gần 50 năm phát triển, Cần Giờ từng bước chuyển mình từ vùng đất khó khăn, hạ tầng thiếu thốn trở thành cửa ngõ hướng biển duy nhất của Thành phố Hồ Chí Minh, giữ vai trò quan trọng về kinh tế biển, quốc phòng - an ninh và phát triển bền vững.
Hệ thống giao thông, điện lưới, giáo dục, y tế được đầu tư đồng bộ; đời sống người dân được cải thiện đáng kể. Từ vùng rừng bị chiến tranh tàn phá, Rừng Sác Cần Giờ đã được phục hồi và được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới đầu tiên của Việt Nam.
Đến đầu năm 2026, nhiều công trình, siêu dự án được triển khai để phát triển đô thị biển Cần Giờ như: Tuyến Metro Bến Thành - Cần Giờ và cầu Cần Giờ - Vũng Tàu, Khu đô thị lấn biển Cần Giờ…
Ý NGHĨA
Việc sáp nhập huyện Duyên Hải vào Thành phố Hồ Chí Minh là quyết định có ý nghĩa chiến lược trong tổ chức không gian phát triển đô thị và kinh tế biển của thành phố sau ngày đất nước thống nhất. Sự kiện mở ra tiền đề để Cần Giờ phát huy vai trò cửa ngõ biển, phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo tồn sinh thái và củng cố quốc phòng, an ninh khu vực phía Nam thành phố.
Từ “chạy gạo” đến “xé rào bung ra”,
những bước đột phá mở đường đổi mới
BỐI CẢNH
Những năm đầu sau ngày đất nước thống nhất, Thành phố Hồ Chí Minh cũng như cả nước vận hành theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp. Hoạt động sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa được quản lý chặt chẽ theo cơ chế giá và chỉ tiêu của Nhà nước.
Tuy nhiên, thực tiễn nhanh chóng cho thấy nhiều bất cập của cơ chế này khi sản xuất đình trệ, lưu thông ách tắc, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Trong bối cảnh đó, lãnh đạo thành phố đã chủ động tìm kiếm những giải pháp linh hoạt để ổn định đời sống dân sinh và duy trì sản xuất kinh doanh. Đó là những giải pháp mang tính đột phá nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất và đời sống, hình thành những mô hình “xé rào”, “cởi trói”, góp phần mở đường cho công cuộc đổi mới của đất nước.
SỰ KIỆN
Một trong những dấu mốc tiêu biểu là câu chuyện “hạt gạo cô Ba Thi”. Khi nông dân đồng bằng sông Cửu Long không bán lúa theo giá nghĩa vụ 0,52 đồng/kg do thấp hơn nhiều so với giá thị trường, Thành phố Hồ Chí Minh đứng trước nguy cơ thiếu lương thực nghiêm trọng cho khoảng 4 triệu dân.
Trước tình hình đó, đồng chí Võ Văn Kiệt, khi ấy là Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, đã chỉ đạo sử dụng ngân sách hỗ trợ Công ty Lương thực Thành phố do bà Nguyễn Thị Ráo (Ba Thi) làm giám đốc thu mua lúa theo “giá thỏa thuận” khoảng 2,5 đồng/kg. Gạo được đưa về thành phố tiêu thụ theo giá kinh doanh thực tế.
Giải pháp này không chỉ góp phần giải quyết nguy cơ thiếu đói cho người dân thành phố mà còn tạo tác động lan tỏa, làm thay đổi cơ chế thu mua lương thực cứng nhắc thời kỳ bao cấp, từng bước phá vỡ cơ chế giá nghĩa vụ lạc hậu.
Đến giai đoạn 1982-1983, trước những khó khăn ngày càng gay gắt, Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh chủ trương báo cáo thực tiễn đổi mới từ cơ sở với Trung ương.
Tháng 7-1983, tại Đà Lạt, đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, đã đề xuất với đồng chí Trường Chinh tổ chức các buổi gặp gỡ giữa lãnh đạo Trung ương với giám đốc các doanh nghiệp đang thí điểm cơ chế sản xuất, kinh doanh mới có hiệu quả. Sự kiện này về sau được gọi là “Sự kiện Đà Lạt”.
Sau khi khảo sát thực tế tại Thành phố Hồ Chí Minh, đồng chí Trường Chinh đã ủng hộ nhiều cách làm mới của thành phố. Đây được xem là bước chuyển quan trọng trong nhận thức lý luận và thực tiễn về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của đất nước.
Ý NGHĨA
Những mô hình “phá rào”, “xé rào”, “bung ra” của Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1975-1985 thể hiện tinh thần năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của lãnh đạo và nhân dân thành phố.
Từ những giải pháp xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đời sống và sản xuất, Thành phố Hồ Chí Minh đã góp phần hình thành tư duy đổi mới kinh tế, tạo tiền đề quan trọng cho đường lối đổi mới toàn diện của Đảng được khởi xướng từ Đại hội VI năm 1986.
Chiến dịch thu mua lúa gạo miền Tây đang lên cao điểm
Chiến dịch thu mua lúa gạo miền Tây đang lên cao điểm
Chị Ba Thi được phong anh hùng
Chị Ba Thi được phong anh hùng
Kinh doanh vừa góp phần quản lý thị trường, vừa góp phần thúc đẩy sản xuất
Kinh doanh vừa góp phần quản lý thị trường, vừa góp phần thúc đẩy sản xuất
Nhân viên Công ty Kinh doanh Lương thực đang kiểm tra và cân đong gạo để đưa về các đại lý
Nhân viên Công ty Kinh doanh Lương thực đang kiểm tra và cân đong gạo để đưa về các đại lý
Tại TPHCM Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng về công tác của thành phố
Tại TPHCM Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng về công tác của thành phố
Chủ tịch HĐND TPHCM Nguyễn Thị Lệ tặng Bằng khen của Ban Thường vụ Thành ủy TPHCM cho các tập thể có thành tích xuất sắc trong thực hiện Nghị quyết 20. Ảnh HOÀNG HÙNG
Chủ tịch HĐND TPHCM Nguyễn Thị Lệ tặng Bằng khen của Ban Thường vụ Thành ủy TPHCM cho các tập thể có thành tích xuất sắc trong thực hiện Nghị quyết 20. Ảnh HOÀNG HÙNG
Bến Bạch Đằng (quận 1, TPHCM). Ảnh HOÀNG HÙNG
Bến Bạch Đằng (quận 1, TPHCM). Ảnh HOÀNG HÙNG
Đại lộ Võ Văn Kiệt, phường Cầu Ông Lãnh, TPHCM. Ảnh HOÀNG HÙNG
Đại lộ Võ Văn Kiệt, phường Cầu Ông Lãnh, TPHCM. Ảnh HOÀNG HÙNG
Bộ Chính trị ban hành các nghị quyết tạo cơ chế đặc biệt thúc đẩy Thành phố Hồ Chí Minh phát triển
BỐI CẢNH
Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, đồng thời đối mặt nhiều yêu cầu mới về quản lý đô thị, phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế. Trước yêu cầu đó, Trung ương đã ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề nhằm tạo cơ chế và định hướng phát triển riêng cho thành phố. TPHCM là địa phương được Bộ Chính trị ban hành nhiều nghị quyết chuyên biệt xuyên suốt qua các giai đoạn phát triển, thể hiện sự quan tâm chiến lược đối với vai trò và vị thế của Thành phố trong cấu trúc phát triển quốc gia.
Từ năm 1982 đến nay, Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ ban hành nhiều nghị quyết, cơ chế đặc thù và chính sách chiến lược nhằm định hướng phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị đặc biệt, trung tâm kinh tế, khoa học - công nghệ và đầu tàu phát triển của cả nước.
CÁC NGHỊ QUYẾT MANG TÍNH BƯỚC NGOẶT
Ngày 14-9-1982, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TW, xác định nhiệm vụ trọng tâm của Thành phố Hồ Chí Minh là ổn định kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân và khôi phục sản xuất trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn thời kỳ bao cấp.
Ngày 18-11-2002, Nghị quyết số 20-NQ/TW được ban hành, định hướng phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; nhấn mạnh vai trò trung tâm của thành phố trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và quá trình hội nhập quốc tế.
Ngày 10-8-2012, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TW, xác định Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và giao lưu quốc tế; giữ vai trò đầu tàu, có sức lan tỏa đối với khu vực phía Nam và cả nước.
Ngày 7-10-2022, Nghị quyết số 24-NQ/TW về phát triển vùng Đông Nam Bộ đến năm 2030, tầm nhìn 2045 tiếp tục xác định Thành phố Hồ Chí Minh là “hạt nhân”, “cực tăng trưởng” của toàn vùng.
Ngày 30-12-2022, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 31-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn 2045; đặt mục tiêu xây dựng thành phố văn minh, hiện đại, giữ vai trò trung tâm kinh tế, tài chính, dịch vụ của khu vực Đông Nam Á.
Tiếp đó, ngày 24-6-2023, Quốc hội thông qua Nghị quyết số 98/2023/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, cho phép thành phố mở rộng phân cấp, phân quyền, chủ động hơn trong quản lý đầu tư, tài chính, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số.
Ngày 11-12-2025, Quốc hội thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 98 mở ra thể chế đặc thù, vượt trội, tạo đột phá cho TPHCM phát triển.
THÀNH TỰU VÀ TÁC ĐỘNG
Nhiều dự án hạ tầng chiến lược như tuyến metro số 1, đường Vành đai 3, Khu đô thị sáng tạo phía Đông được triển khai, phản ánh quá trình cụ thể hóa các nghị quyết của Trung ương vào thực tiễn phát triển đô thị hiện đại.
Ngày 22-12-2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tiếp tục đặt ra yêu cầu để Thành phố Hồ Chí Minh phát huy vai trò tiên phong trong chuyển đổi số, phát triển kinh tế tri thức và khoa học công nghệ cao.
Ý NGHĨA
Các nghị quyết chiến lược của Trung ương dành cho Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo nền tảng chính trị, pháp lý và cơ chế phát triển quan trọng cho quá trình xây dựng đô thị đặc biệt của cả nước.
Chuỗi nghị quyết không chỉ khẳng định vai trò đầu tàu kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh mà còn thể hiện kỳ vọng của Trung ương đối với thành phố trong việc dẫn dắt đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
Thành lập Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh (Saigon Co.op)
SỰ KIỆN
Liên hiệp Hợp tác xã Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh (Saigon Co.op) được thành lập, trở thành mô hình hợp tác xã kiểu mới tiêu biểu và là một trong những hệ thống bán lẻ hàng đầu Việt Nam.
BỐI CẢNH HÌNH THÀNH
Sau Đại hội VI của Đảng năm 1986, Việt Nam bắt đầu chuyển đổi từ cơ chế kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh nhiều hợp tác xã mua bán gặp khó khăn, mô hình kinh tế tập thể đứng trước nguy cơ tan rã, Thành phố Hồ Chí Minh đã tìm hướng đổi mới phương thức tổ chức và hoạt động thương mại.
Ngày 12-5-1989, UBND Thành phố Hồ Chí Minh quyết định chuyển đổi Ban Quản lý Hợp tác xã Mua bán Thành phố thành Saigon Co.op. Đây được xem là bước ngoặt quan trọng trong quá trình đổi mới mô hình hợp tác xã thương mại tại Việt Nam.
GIAI ĐOẠN KHỞI ĐẦU VÀ ĐỊNH HÌNH MÔ HÌNH
Khi mới thành lập, Saigon Co.op hoạt động với hai chức năng chính gồm trực tiếp kinh doanh và tổ chức phát triển phong trào hợp tác xã. Nguồn vốn ban đầu chỉ khoảng 1 tỷ đồng; doanh nghiệp đối mặt nhiều khó khăn về quản trị, cơ sở hạ tầng và cạnh tranh thị trường.
Bước ngoặt quan trọng diễn ra năm 1996 khi siêu thị Co.opmart đầu tiên được khai trương tại đường Cống Quỳnh (quận 1). Trong bối cảnh thị trường bán lẻ chủ yếu tiêu thụ hàng ngoại nhập, Co.opmart lựa chọn chiến lược ưu tiên hàng Việt Nam với phương châm: “Siêu thị Việt, do người Việt xây dựng, vì người Việt phục vụ”.
Chiến lược này giúp Co.opmart nhanh chóng tạo dựng niềm tin với người tiêu dùng; đồng thời góp phần thúc đẩy phong trào “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” trong giai đoạn thị trường bán lẻ hiện đại bắt đầu phát triển.
MỞ RỘNG HỆ THỐNG VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ
Sau giai đoạn phát triển tại miền Nam, Saigon Co.op từng bước mở rộng ra toàn quốc. Năm 2010, hệ thống Co.opmart có mặt tại Hà Nội với siêu thị Co.opmart Hà Đông, đánh dấu bước phát triển từ thương hiệu địa phương trở thành hệ thống bán lẻ quốc gia.
Song song đó, doanh nghiệp phát triển đa dạng mô hình bán lẻ như chuỗi đại siêu thị Co.opXtra, cửa hàng thực phẩm Co.op Food, cửa hàng bách hóa Co.op Smile, cửa hàng tiện lợi Cheers hoạt động 24/7 và hệ thống trung tâm thương mại Sense City tại nhiều tỉnh, thành phố.
Trong quá trình phát triển, Saigon Co.op đẩy mạnh hợp tác quốc tế với các đối tác từ Nhật Bản, Singapore và Thụy Điển. Tiêu biểu là sự hợp tác với NTUC FairPrice để phát triển chuỗi đại siêu thị Co.opXtra.
THÀNH TỰU NỔI BẬT
Đến năm 2025, Saigon Co.op sở hữu hệ thống gồm 123 siêu thị và đại siêu thị, hơn 700 cửa hàng tiện lợi, 4 trung tâm thương mại hiện đại; hiện diện tại 43 tỉnh, thành phố trên cả nước.
Doanh nghiệp phục vụ hơn 1 triệu lượt khách mỗi ngày và có trên 4 triệu khách hàng thành viên thân thiết; đồng thời thuộc nhóm 500 nhà bán lẻ hàng đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Năm 2024, doanh thu của hệ thống đạt gần 30.000 tỷ đồng; trong đó thương mại điện tử chiếm hơn 10% doanh thu, tăng gần 50% so với cùng kỳ.
Thông qua mạng lưới hợp tác xã quốc tế, gần 1.000 sản phẩm Việt Nam đã được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, góp phần quảng bá thương hiệu Việt và thúc đẩy tiêu thụ hàng Việt trên thị trường quốc tế.
Ý NGHĨA
Sự phát triển của Saigon Co.op phản ánh quá trình đổi mới kinh tế và chuyển mình của Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ hậu bao cấp và hội nhập quốc tế.
Từ một mô hình hợp tác xã nhỏ với nguồn lực hạn chế, Saigon Co.op đã trở thành biểu tượng tiêu biểu của kinh tế tập thể kiểu mới, đồng thời góp phần định hình thị trường bán lẻ hiện đại Việt Nam theo hướng ưu tiên hàng Việt.
Saigon Co.op ngày nay
Saigon Co.op ngày nay
Ban lãnh đạo Saigon Co.op cắt bánh sinh nhật chào mừng kỷ niệm 35 năm hình thành và phát triển của Saigon Co.op
Ban lãnh đạo Saigon Co.op cắt bánh sinh nhật chào mừng kỷ niệm 35 năm hình thành và phát triển của Saigon Co.op
Hàng Việt góp phần tạo nên thương hiệu siêu thị Việt - Co.opmart gần gũi và quen thuộc
Hàng Việt góp phần tạo nên thương hiệu siêu thị Việt - Co.opmart gần gũi và quen thuộc
Các doanh nghiệp tại Khu chế xuất Tân Thuận có nhiều lợi thế cạnh tranh trong chuỗi cung ứng
Các doanh nghiệp tại Khu chế xuất Tân Thuận có nhiều lợi thế cạnh tranh trong chuỗi cung ứng
Khu chế xuất Tân Thuận có vị trí chiến lược rất thuận lợi
Khu chế xuất Tân Thuận có vị trí chiến lược rất thuận lợi
Thành lập
Khu chế xuất Tân Thuận -
Khu chế xuất đầu tiên của cả nước
SỰ KIỆN
Khu Chế xuất Tân Thuận được thành lập theo Quyết định số 394/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, trở thành khu chế xuất đầu tiên của Việt Nam, mở đường cho mô hình khu chế xuất - khu công nghiệp trong thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế.
BỐI CẢNH
Năm 1991, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng thông qua “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000”, xác định chủ trương phát triển các thành phần kinh tế, mở rộng liên doanh và hợp tác với nước ngoài để thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong bối cảnh Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài và mở rộng giao thương quốc tế, Hội đồng Bộ trưởng chủ trương xây dựng mô hình khu chế xuất thí điểm. Thành phố Hồ Chí Minh được Trung ương lựa chọn là địa phương tiên phong triển khai mô hình này.
Đề án xây dựng khu chế xuất được giao cho ông Phan Chánh Dưỡng, khi đó là Giám đốc Công ty Cholimex, phụ trách triển khai cùng “Nhóm nghiên cứu chuyên đề kinh tế của Thành ủy”. Đề án có sự tham gia của nhiều chuyên gia từng có kinh nghiệm xây dựng khu công nghiệp và khu chế xuất trước năm 1975 và ở nước ngoài.
Sau quá trình khảo sát, khu vực Tân Thuận Đông được lựa chọn làm nơi xây dựng khu chế xuất đầu tiên của cả nước. Thời điểm đó, đây là vùng đất ngập mặn, hoang hóa rộng khoảng 300ha ven sông Sài Gòn. Khu vực này có vị trí chiến lược thuận lợi nhờ gần Cảng Tân Thuận, không xa trung tâm thành phố. Đây cũng được xem là hạt nhân để mở rộng không gian phát triển đô thị Thành phố Hồ Chí Minh về hướng Nam và ra biển Đông.
THU HÚT ĐẦU TƯ VÀ TRIỂN KHAI MÔ HÌNH MỚI
Sau khi đề án được chấp thuận, Thành phố Hồ Chí Minh thành lập “Chương trình xây dựng khu Tân Thuận” và bổ nhiệm ông Phan Chánh Dưỡng làm giám đốc. Những nỗ lực chuẩn bị cùng quy hoạch khả thi đã thu hút được hai công ty PanViet và CT&D của Đài Loan (Trung Quốc) tham gia đầu tư.
Công ty Liên doanh Xây dựng và Kinh doanh Khu chế xuất Tân Thuận – tiền thân của Công ty Phát triển Công nghiệp Tân Thuận – được thành lập để triển khai dự án. Các chuyên gia kinh tế đồng thời xây dựng cơ chế vận hành, quy hoạch hạ tầng, chính sách ưu đãi và mô hình quản lý phù hợp với điều kiện Việt Nam thời kỳ đầu mở cửa.
Ngày 25-11-1991, Khu Chế xuất Tân Thuận chính thức được thành lập; đến tháng 2-1992, dự án bắt đầu khởi công xây dựng.
Sự thành công của Khu Chế xuất Tân Thuận đã mở đường cho sự phát triển mô hình khu chế xuất, khu công nghiệp trên phạm vi cả nước. Giai đoạn 1991-2002, Việt Nam đã thành lập 72 khu chế xuất - khu công nghiệp, đóng góp khoảng 30% giá trị sản lượng công nghiệp quốc gia.
Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, đến nay có 17 khu chế xuất - khu công nghiệp đang hoạt động, góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố.
Chỉ sau 5 năm kể từ khi khởi công Khu Chế xuất Tân Thuận, hàng loạt công trình chiến lược tại khu Nam thành phố tiếp tục được triển khai như Khu đô thị Phú Mỹ Hưng, Khu công nghiệp - cảng Hiệp Phước, Nhà máy điện Hiệp Phước, đại lộ Nguyễn Văn Linh và cầu Phú Mỹ.
CHUYỂN ĐỔI THEO HƯỚNG CÔNG NGHỆ CAO
Tính đến tháng 11-2024, Khu Chế xuất Tân Thuận thu hút 255 nhà đầu tư đến từ 21 quốc gia và vùng lãnh thổ, tạo việc làm cho khoảng 60.000 lao động.
Theo đề án chuyển đổi các khu chế xuất, khu công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh, sau khi kết thúc thời hạn thuê đất vào năm 2041, Khu Chế xuất Tân Thuận sẽ được chuyển đổi theo hướng thu hút công nghệ cao, công nghiệp xanh và các ngành nghiên cứu - phát triển.
Hiện nay, khu chế xuất đang từng bước chuyển dịch từ các ngành thâm dụng lao động sang lĩnh vực phần mềm, công nghệ thông tin, điện tử và dịch vụ công nghệ cao; đồng thời chú trọng nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần cho người lao động.
Ý NGHĨA
Khu Chế xuất Tân Thuận là dấu mốc quan trọng trong tiến trình đổi mới kinh tế và mở cửa hội nhập quốc tế của Việt Nam sau năm 1986, đặt nền móng cho mô hình phát triển khu chế xuất - khu công nghiệp hiện đại tại Việt Nam.
Những em bé đầu tiên ra đời
từ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
SỰ KIỆN
Việt Nam lần đầu tiên thực hiện thành công kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (TTON), mở ra bước ngoặt lớn cho nền y học nước nhà và hàng triệu gia đình hiếm muộn.
KHOẢNH KHẮC LÀM NÊN LỊCH SỬ
Lúc 2 giờ 45 phút ngày 30-4-1998, bé Mai Quốc Bảo cất tiếng khóc chào đời tại Bệnh viện Từ Dũ, trở thành em bé đầu tiên sinh ra bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm tại Việt Nam.
Chỉ vài giờ sau, hai em bé tiếp theo là Lưu Tuyết Trân và Phạm Tường Lan Thy cũng ra đời khỏe mạnh. Ba tiếng khóc đầu đời trong đêm kỷ niệm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước không chỉ là niềm hạnh phúc của các gia đình, mà còn là thời khắc đánh dấu Việt Nam chính thức bước vào kỷ nguyên mới của y học hỗ trợ sinh sản.
HÀNH TRÌNH “ĐI NGƯỢC CHIỀU GIÓ”
Từ những năm 1980, khi kỹ thuật TTON còn rất mới tại châu Á, Giáo sư - Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng đã nung nấu khát vọng đưa kỹ thuật này về Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, ý tưởng hỗ trợ sinh sản từng bị xem là “đi ngược xu thế”.
Bằng sự kiên trì và quyết tâm, Giáo sư Nguyễn Thị Ngọc Phượng đã dành dụm tiền lương để mua máy móc, cử bác sĩ trẻ đi đào tạo ở nước ngoài và xây dựng nền móng cho khoa hỗ trợ sinh sản đầu tiên tại Việt Nam. Đồng hành cùng bà là bác sĩ Tạ Thị Chung cùng tập thể y bác sĩ Bệnh viện Từ Dũ.
Năm 1997, bệnh viện phối hợp cùng các chuyên gia Pháp triển khai những ca TTON đầu tiên. Sau nhiều thất bại, ba ca mang thai thành công, mở ra bước ngoặt cho y học Việt Nam.
ĐẾN VỊ THẾ HÀNG ĐẦU KHU VỰC
Từ đó, lĩnh vực hỗ trợ sinh sản tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ, với Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm hàng đầu cả nước.
Theo thống kê của Bộ Y tế, đến năm 2024, Việt Nam có khoảng 150.000 trẻ em ra đời bằng phương pháp TTON. Tỷ lệ điều trị thành công đạt trung bình 40%-50%, nhiều cơ sở đạt khoảng 70%, tiệm cận trình độ tiên tiến trên thế giới.
Các trung tâm hỗ trợ sinh sản tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện đã làm chủ nhiều kỹ thuật hiện đại như nuôi trưởng thành noãn trong ống nghiệm, đông lạnh phôi bằng kỹ thuật thủy tinh hóa, kích thích buồng trứng tối ưu… với chi phí thuộc nhóm thấp nhất khu vực.
Đến nay, Việt Nam ghi dấu trên bản đồ hỗ trợ sinh sản quốc tế, biến Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm đào tạo và chuyển giao kỹ thuật hỗ trợ sinh sản có uy tín trong khu vực, góp phần khẳng định năng lực của y học Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển khoa học công nghệ hiện đại.
Em bé đầu tiên được thụ tinh trong ống nghiệm chào đời vào đêm 30-4-1988
Em bé đầu tiên được thụ tinh trong ống nghiệm chào đời vào đêm 30-4-1988
BS Trần Đông A (bên trái) và anh em Nguyễn Việt - Nguyễn Đức, năm 1988 anh Nguyen Cong Thanh
BS Trần Đông A (bên trái) và anh em Nguyễn Việt - Nguyễn Đức, năm 1988 anh Nguyen Cong Thanh
Các bác sĩ đã tách dính hoàn toàn 2 bé Diệu Nhi - Trúc Nhi. Ảnh: Bệnh viện Nhi đồng Thành phố (2020)
Các bác sĩ đã tách dính hoàn toàn 2 bé Diệu Nhi - Trúc Nhi. Ảnh: Bệnh viện Nhi đồng Thành phố (2020)
Thành phố Hồ Chí Minh khai trương Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
TIẾNG CHIÊNG MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG
Sáng 28-7-2000, phiên giao dịch chứng khoán đầu tiên chính thức diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh với hai mã cổ phiếu niêm yết: REE và SAM.
Sự kiện này mở ra một kênh huy động vốn mới cho doanh nghiệp, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tiến trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa Việt Nam từng bước hội nhập vào dòng chảy tài chính toàn cầu.
Trong năm đầu hoạt động, thị trường chỉ có 5 cổ phiếu và 4 trái phiếu niêm yết, tổng vốn hóa chưa đến 1% GDP.
Sau hơn 25 năm phát triển, HOSE đã trở thành trung tâm giao dịch chứng khoán lớn nhất Việt Nam. Đến cuối năm 2024: giá trị vốn hóa cổ phiếu trên HOSE đạt hơn 5,2 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 51% GDP; thanh khoản thị trường đạt khoảng 18.685 tỷ đồng/phiên; VN-Index đạt 1.266,78 điểm, thuộc nhóm thị trường tăng trưởng mạnh trong khu vực Đông Nam Á.
Từ đây, hàng trăm doanh nghiệp lớn của Việt Nam đã huy động được nguồn vốn khổng lồ để mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh.
HOSE trở thành một trong những trung tâm quan trọng thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, với hàng trăm phiên đấu giá lớn, tiêu biểu như Sabeco, Vietcombank hay Vinamilk.
NHỮNG “CƠN SÓNG” THỊ TRƯỜNG
Hành trình của thị trường chứng khoán Việt Nam không chỉ có tăng trưởng mà còn trải qua nhiều biến động dữ dội. Từ mốc khởi điểm 100 điểm, VN-Index từng tăng nóng lên hơn 1.170 điểm năm 2007 rồi lao dốc còn khoảng 235 điểm sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009.
Thị trường còn trải qua nhiều “cú sốc” khác như: khủng hoảng trái phiếu doanh nghiệp; các vụ thao túng cổ phiếu; nghẽn lệnh giao dịch; tác động của đại dịch Covid-19.
Nhiều vụ án lớn liên quan thao túng thị trường chứng khoán đã bị xử lý nghiêm minh, thúc đẩy yêu cầu minh bạch hóa, nâng cao chuẩn quản trị và siết chặt kỷ cương thị trường tài chính.
Cùng với quá trình chuyển đổi số và hội nhập tài chính quốc tế, thị trường chứng khoán đang phát triển thêm nhiều sản phẩm hiện đại như: quỹ ETF; chứng quyền có bảo đảm; chứng khoán phái sinh; các quỹ đầu tư chuyên biệt.
Đến đầu năm 2025, Việt Nam có khoảng 9,5 triệu tài khoản chứng khoán, tương đương gần 10% dân số.
Việc nâng hạng thị trường chứng khoán từ cận biên lên mới nổi đang được xem là mục tiêu chiến lược nhằm thu hút dòng vốn quốc tế quy mô lớn, đồng thời góp phần hiện thực hóa khát vọng xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm tài chính quốc tế của khu vực.
20/7/2000, Lễ khai trương Trung tâm Giao dịch chứng khoản thành phố Hồ Chí Minh
20/7/2000, Lễ khai trương Trung tâm Giao dịch chứng khoản thành phố Hồ Chí Minh
Phiên giao dịch chứng khoán đầu tiên
Phiên giao dịch chứng khoán đầu tiên
Quang cảnh sàn giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE) năm 2008 - thời kỳ thị trường tăng trưởng mạnh mẽ và thu hút đông đảo nhà đầu tư, thể hiện vai trò đầu tàu của HOSE trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Ảnh: HOÀNG HÙNG
Quang cảnh sàn giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE) năm 2008 - thời kỳ thị trường tăng trưởng mạnh mẽ và thu hút đông đảo nhà đầu tư, thể hiện vai trò đầu tàu của HOSE trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Ảnh: HOÀNG HÙNG
Lễ đánh chiêng chào mừng một doanh nghiệp chính thức niêm yết cổ phiếu trên Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM (HOSE) Ảnh: HOÀNG HÙNG
Lễ đánh chiêng chào mừng một doanh nghiệp chính thức niêm yết cổ phiếu trên Sở Giao dịch Chứng khoán TPHCM (HOSE) Ảnh: HOÀNG HÙNG
Doanh nghiệp nhận Bằng khen, Bảng Vàng, Bảng Bạc của UBND TPHCM trao tặng
Doanh nghiệp nhận Bằng khen, Bảng Vàng, Bảng Bạc của UBND TPHCM trao tặng
Chủ tịch UBND TPHCM Phan Văn Mãi trao Bằng khen, Bảng Vàng, Bảng Bạc cho doanh nghiệp tham gia Chương trình BOTT
Chủ tịch UBND TPHCM Phan Văn Mãi trao Bằng khen, Bảng Vàng, Bảng Bạc cho doanh nghiệp tham gia Chương trình BOTT
Hàng bình ổn được bán đa dạng tại các siêu thị Co.opmart (năm 2023)
Hàng bình ổn được bán đa dạng tại các siêu thị Co.opmart (năm 2023)
Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Dũng cùng đoàn khảo sát hàng hóa tết tại siêu
Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Dũng cùng đoàn khảo sát hàng hóa tết tại siêu
Chương trình “Bình ổn thị trường”
góp phần bảo đảm an sinh xã hội,
ổn định nguồn cung hàng hóa;
bình chọn Hàng Việt Nam chất lượng cao
Chương trình “Bình ổn thị trường” được triển khai từ năm 2002 nhằm ổn định an sinh xã hội, bảo đảm cân đối cung – cầu, phát huy vai trò điều tiết trong ổn định thị trường. Từ mục tiêu ban đầu là để ngăn chặn tình trạng tăng giá tùy tiện trong các dịp lễ tết, chương trình được xã hội hóa và mở rộng quy mô vào năm 2010. Tính đến nay, có 72 doanh nghiệp tham gia và chính thức chuyển sang bình ổn thị trường cả năm.
Các bên tham gia dựa dưới các hình thức như cung ứng hàng hóa, phân phối hàng hóa hoặc hỗ trợ triển khai chương trình. Chương trình đã hình thành mạng lưới liên kết giữa TPHCM và các tỉnh, thành trên cả nước, góp phần xây dựng chuỗi cung ứng bền vững, bảo đảm lưu thông hàng hóa và duy trì giá bán thấp hơn thị trường nhằm ổn định đời sống người dân.
Sau gần 30 năm, chương trình đã tạo sự kết nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng; đồng thời tiếp cận đời sống người dân một cách thiết thực bằng cách mở rộng phạm vi các loại hàng hóa.
Giai đoạn 2002-2012, chương trình chủ yếu tập trung bảo đảm nguồn cung các mặt hàng thiết yếu như gạo, thịt, trứng, đường và dầu ăn, nhất là vào dịp lễ, tết.
Sang giai đoạn 2013-2020, phạm vi được mở rộng sang tập vở, dụng cụ học tập, dược phẩm và một số mặt hàng gia dụng thiết yếu.
Giai đoạn 2021-2023, sau tác động của đại dịch COVID-19, chương trình chú trọng hơn đến việc củng cố chuỗi cung ứng, kết nối sản xuất với hệ thống phân phối và bảo đảm lưu thông hàng hóa ổn định.
Hiện tại chương trình hướng đến bình ổn chi phí sống toàn diện, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của người dân và doanh nghiệp. Tính riêng trong những tháng đầu năm 2026, tổng giá trị hàng hóa chuẩn bị cho Tết Bính Ngọ trên 26.000 tỉ đồng, trong đó hơn 9.000 tỉ đồng dành riêng cho hàng bình ổn.
Chương trình là động lực thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao chất lượng, phát triển thương hiệu, với 562 doanh nghiệp trên cả nước được trao chứng nhận Hàng Việt Nam chất lượng cao vào năm 2025.










