Kết nối các cực công nghiệp
Không gian mới cho phép TPHCM kết nối hài hòa các thế mạnh: khu vực TPHCM cũ tập trung công nghệ cao, nghiên cứu và phát triển (R&D), tài chính, đổi mới sáng tạo; Bình Dương cũ mạnh về chế biến chế tạo, công nghiệp hỗ trợ; Bà Rịa - Vũng Tàu cũ có công nghiệp nền tảng, năng lượng, logistics và cụm cảng Cái Mép - Thị Vải.
Cùng với định hướng phát triển cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ và khu thương mại tự do Cái Mép Hạ, thành phố có điều kiện hình thành chuỗi giá trị toàn diện từ nghiên cứu, sản xuất đến logistics, xuất khẩu.
Theo TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, động lực tăng trưởng mới của TPHCM nằm ở khả năng phát huy lợi thế bổ trợ giữa các cực công nghiệp, qua đó nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực.
Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM cũng nhấn mạnh yêu cầu phân vai các cực sản xuất: gắn công nghệ cao với R&D đào tạo; chế biến chế tạo với công nghiệp hỗ trợ; cảng biển với logistics và kinh tế biển. Để phát huy lợi thế, mạng lưới KCX-KCN cần được tổ chức theo chức năng và chuỗi ngành, thay vì phát triển riêng lẻ.
TPHCM hiện có 58 KCX-KCN đang hoạt động, tỷ lệ lấp đầy đạt khoảng 80%. Theo ông Trần Việt Hà, Phó Trưởng ban HEPZA, các KCX-KCN thu hút hơn 5.400 dự án, tổng vốn khoảng 82 tỷ USD.
Đây là nền tảng để thành phố chuyển từ thu hút đầu tư theo địa điểm sang hình thành các cụm liên kết sản xuất, công nghệ và dịch vụ. Các KCN mới sẽ phát triển theo mô hình cụm liên kết ngành và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, ưu tiên dự án công nghệ cao có khả năng dẫn dắt chuỗi cung ứng; đồng thời chuyển đổi các KCN hiện hữu theo chiều sâu để nâng cao giá trị gia tăng.
Thay vì chỉ mở rộng diện tích, thành phố tổ chức lại mạng lưới công nghiệp, trong đó dự án đầu tàu tạo thị trường cho doanh nghiệp hỗ trợ, còn R&D và dịch vụ kỹ thuật giúp nâng năng lực sản xuất chung.
Chuyển hóa lợi thế không gian
Dòng vốn đầu tư đang đặt ra những yêu cầu khắt khe đối với hạ tầng công nghiệp. Trong năm 2026, bốn dự án công nghệ cao với tổng vốn hơn 1,23 tỷ USD được cấp chứng nhận đầu tư, tập trung vào trung tâm dữ liệu, công nghệ y sinh và thiết bị điện tử thông minh.
Trong đó, dự án Evolution DC VN HCMC có vốn khoảng 508,78 triệu USD, công suất 52MW IT Load; STARMASON có vốn khoảng 480,26 triệu USD, công suất 60MW IT Load.
Sự xuất hiện của các dự án này khẳng định sức hút lớn từ các lĩnh vực công nghệ mới, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về hạ tầng điện, dữ liệu, viễn thông và nguồn nhân lực chuyên môn.
Theo HEPZA, tính đến tháng 7-2026, quỹ đất công nghiệp sẵn sàng cho thuê chỉ đạt khoảng 1.155ha, cùng hơn 230.000m2 nhà xưởng. Khoảng cách giữa diện tích đất quy hoạch và đất thực tế khai thác đòi hỏi phải đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng, hoàn thiện hạ tầng và đơn giản hóa thủ tục đầu tư.
Ông Võ Thanh Tùng, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Cao su Phước Hòa - VRG, nhận định, nguồn điện ổn định, chất lượng cao và phát thải thấp đã trở thành tiêu chí cạnh tranh cốt lõi của các KCN.
Tại Khu Công nghệ cao TPHCM, nơi Intel, Samsung, Nidec, Jabil và Sanofi chiếm khoảng 70%-80% nhu cầu điện, nghiên cứu ước tính khả năng huy động khoảng 280 triệu USD giai đoạn 2026-2028, nếu hình thành đầu mối tập hợp nhu cầu và tổ chức vốn. Điều này cho thấy hạ tầng năng lượng cần đầu tư theo nhu cầu cả cụm sản xuất, thay vì từng doanh nghiệp tự giải quyết.
Bên cạnh hạ tầng, khả năng lan tỏa của các dự án lớn phụ thuộc chặt chẽ vào năng lực tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp nội địa.
Theo ông Trần Việt Hà, HEPZA đang hỗ trợ doanh nghiệp cải tiến dây chuyền, xây dựng nhà máy thông minh, kết nối đội ngũ chuyên gia, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo; phối hợp cùng Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước TPHCM (HFIC) hướng dẫn tiếp cận vốn ưu đãi để đổi mới thiết bị, phát triển sản xuất xanh và tuần hoàn.
Đây là hướng hỗ trợ then chốt giúp doanh nghiệp trong nước đáp ứng tiêu chuẩn dự án đầu tàu, từ đó tham gia sâu hơn các công đoạn có giá trị gia tăng cao.
Theo TS Cấn Văn Lực, việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ dựa nhiều vào vốn và lao động sang năng suất đòi hỏi nâng cao đồng thời năng lực khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chất lượng nhân lực, hiệu quả phân bổ nguồn lực, hạ tầng và thể chế.
Với TPHCM, yêu cầu này càng cấp thiết. Khi các cực công nghiệp được phân vai rõ ràng kết nối thành chuỗi giá trị và vận hành trên nền tảng công nghệ, hạ tầng đồng bộ, thành phố sẽ có điều kiện nâng cao năng suất, tăng tỷ lệ nội địa hóa và giá trị trên mỗi hécta đất công nghiệp.
Đây chính là cơ sở để chuyển hóa lợi thế không gian thành năng lực cạnh tranh, tạo động lực cho nhịp tăng trưởng công nghiệp mới.
* Ông PHẠM BÌNH AN, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM:
Phân vai các cực công nghiệp để tạo chuỗi giá trị
Ông Phạm Bình An
Quy hoạch không nên dừng ở từng KCN mà cần tổ chức các cực sản xuất theo chức năng. Công nghệ cao phải gắn với R&D, đào tạo và doanh nghiệp cung ứng; chế biến, chế tạo tạo thị trường cho công nghiệp hỗ trợ; cảng biển kết nối trực tiếp với logistics, xuất khẩu và công nghiệp phục vụ kinh tế biển.
KCN mới và KCN chuyển đổi phải nằm trong một cấu trúc chung, để vốn, lao động, công nghệ và đất đai được phân bổ vào nơi tạo ra giá trị cao hơn. Khi các cực được phân vai và kết nối, lợi thế của khu vực này sẽ bổ trợ khu vực khác, hình thành chuỗi giá trị trong một không gian kinh tế thống nhất.
Mục tiêu không phải là có thêm nhiều KCN mà là tạo ra mạng lưới công nghiệp, trong đó mỗi cực đảm nhiệm một mắt xích, cùng nâng cao giá trị của toàn chuỗi.
* PGS-TS NGUYỄN HỮU HUÂN, Phó Chủ tịch Cơ quan Điều hành Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam tại TPHCM:
Tạo dòng vốn dài hạn cho hạ tầng KCN
PGS-TS Nguyễn Hữu Huân
Chuyển KCN sang công nghệ cao, xanh, phát thải thấp đòi hỏi vốn dài hạn lớn cho năng lượng sạch, lưu trữ điện, xử lý chất thải, tuần hoàn nước, dữ liệu và logistics. Do đó, cần chuyển từ tài trợ từng doanh nghiệp sang huy động vốn cho hạ tầng dùng chung ở quy mô KCN.
Muốn dòng vốn đi vào thực tế, dự án cần tiêu chí xanh rõ ràng, dữ liệu đo lường hiệu quả, cơ chế chia sẻ rủi ro và dòng tiền hoàn vốn dài hạn. Nhà nước không nhất thiết đầu tư toàn bộ mà cần tạo cơ chế để vốn công, chủ đầu tư KCN, tổ chức tài chính và doanh nghiệp cùng tham gia.
Khi vốn được tổ chức ở quy mô KCN, những hạ tầng từng doanh nghiệp khó tự đầu tư có thể trở thành tài sản dùng chung, vừa giảm chi phí chuyển đổi vừa nâng sức cạnh tranh toàn khu.
* Ông NGUYỄN LÝ TRUNG, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Điện Becamex:
Điện xanh đang trở thành lợi thế cạnh tranh
Ông Nguyễn Lý Trung
Nhiều tập đoàn quốc tế khi chọn địa điểm không chỉ quan tâm giá thuê đất, hạ tầng sản xuất mà đặt vấn đề về khả năng cung cấp điện xanh. Đi cùng đó là yêu cầu về chứng chỉ năng lượng tái tạo I-REC, kiểm kê phát thải và lộ trình Net Zero.
Vì thế, hạ tầng KCN phải thay đổi. Thay vì từng doanh nghiệp tự tìm giải pháp, cần cung cấp hệ sinh thái năng lượng trong KCN, kết hợp điện mặt trời mái nhà, năng lượng tái tạo, hệ thống lưu trữ và giải pháp chứng minh sử dụng điện xanh.
KCN thế hệ mới không chỉ bán đất và hạ tầng kỹ thuật mà phải giúp nhà đầu tư sản xuất xanh, đáp ứng tiêu chuẩn khách hàng quốc tế, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
MINH XUÂN ghi