Trong bối cảnh Việt Nam hướng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, đây không chỉ là chính sách hỗ trợ, mà còn có thể trở thành công cụ tài khóa tạo thêm nguồn lực để khu vực kinh tế tư nhân tích lũy, đầu tư và lớn lên.
Với doanh nghiệp nhỏ, mỗi khoản chi phí được tiết giảm đều có thể trở thành nguồn bổ sung dòng tiền, đầu tư máy móc, mở rộng sản xuất hoặc duy trì việc làm. Khi hàng trăm ngàn doanh nghiệp, hộ kinh doanh được tiếp thêm nguồn lực, tác động của chính sách sẽ không dừng ở từng cơ sở sản xuất mà có thể lan sang tiêu dùng, đầu tư và tăng trưởng.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, động lực tăng trưởng không thể chỉ dựa vào đầu tư công hay khu vực đầu tư nước ngoài. Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Muốn khu vực này thực sự trở thành động lực tăng trưởng, doanh nghiệp phải có khả năng tích lũy, tái đầu tư và mở rộng quy mô. Vì vậy, giảm thuế không nên chỉ được nhìn dưới góc độ Nhà nước giảm một phần nguồn thu ngân sách. Nếu khoản tiền doanh nghiệp được giữ lại chuyển thành máy móc, công nghệ, việc làm và năng lực sản xuất mới, thì đó chính là khoản đầu tư cho tăng trưởng. Nhà nước giảm một phần thu trước mắt để tạo điều kiện cho doanh nghiệp lớn lên, qua đó mở rộng nền tảng thu ngân sách trong tương lai.
Tuy nhiên, giảm thuế thu nhập chỉ có ý nghĩa đối với những doanh nghiệp đang có lợi nhuận. Với doanh nghiệp thua lỗ hoặc lợi nhuận thấp, phần thuế được giảm có thể không lớn. Điều họ cần không chỉ là ưu đãi thuế, mà còn là giảm chi phí phát sinh trong sản xuất, kinh doanh và thực hiện thủ tục hành chính. Bởi vậy, doanh nghiệp cần một môi trường kinh doanh thuận lợi, ổn định và có khả năng dự báo. Những kiến nghị thường xuyên được nhắc đến vẫn là cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng. Chi phí từ thủ tục, thời gian chờ đợi hay sự chồng chéo của quy định có thể làm hao hụt đáng kể nguồn lực doanh nghiệp.
Hiệu quả giảm thuế sẽ lớn hơn nếu chính sách được đặt trong tổng thể cải cách thể chế. Giảm được một đồng thuế nhưng đồng thời giảm thêm chi phí tuân thủ, thời gian chờ đợi và rủi ro từ những quy định thiếu ổn định thì nguồn lực doanh nghiệp nhận được sẽ lớn hơn nhiều. Chính sách cũng có thể khuyến khích hộ kinh doanh chuyển sang mô hình doanh nghiệp. Khi chuyển đổi, họ có thêm cơ hội tiếp cận tín dụng, đầu tư công nghệ, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Khi doanh nghiệp nhỏ có điều kiện trở thành doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp vừa có cơ hội lớn lên, nền kinh tế không chỉ tăng số lượng mà còn nâng chất lượng khu vực kinh tế tư nhân.
Việc giảm thu trước mắt chắc chắn tạo áp lực nhất định đối với ngân sách. Nhưng nhìn dài hạn, một doanh nghiệp phát triển sẽ tạo thêm việc làm, mở rộng sản xuất, tăng năng suất và đóng góp ngân sách nhiều hơn. Một khu vực kinh tế tư nhân lớn mạnh sẽ tạo nền tảng thu rộng và bền vững hơn. Vì vậy, giảm 30% thuế là bước đi, nhưng không dừng ở việc giúp doanh nghiệp “dễ thở” hơn trong một vài năm. Quan trọng hơn là biến phần nguồn lực được giữ lại thành vốn đầu tư mới, việc làm mới và những doanh nghiệp có khả năng lớn lên. Cùng với khơi thông điểm nghẽn thể chế, giảm chi phí tuân thủ và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, chính sách giảm thuế có thể trở thành một phần của chiến lược lớn hơn: nuôi dưỡng doanh nghiệp hôm nay để nuôi dưỡng nguồn thu và động lực tăng trưởng cho ngày mai.