Mỗi lần trở lại nơi này, ông lặng lẽ thắp hương và đứng thật lâu trước bia tưởng niệm như gửi gắm vào đó một nỗi niềm…
Cuộc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng được triển khai hơn 3 tháng qua, hàng trăm liệt sĩ đã được tìm thấy và nhiệm vụ vẫn tiếp tục với yêu cầu cao nhất.
Mỗi thông tin, mỗi dòng sử liệu được tìm thấy là một lần thắp lên hy vọng cho hàng ngàn thân nhân liệt sĩ bởi cuộc chờ đợi này đã quá nửa đời người. Với gia đình của Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Thị Riêng, thời gian chia ly còn dài hơn, sự mong đợi của những người con ngóng mẹ vì thế chất chứa nhiều ưu tư.
Thông tin mà người thân có được chỉ vỏn vẹn rằng, sau khi hy sinh, bà được chôn cất trong một ngôi mộ tập thể tại Nghĩa địa Chí Hòa trước đây. Trải qua tháng năm, nghĩa địa sau đó được giải tỏa để xây dựng công viên. Đến nay, vị trí phần mộ của bà vẫn chưa được xác định. Vì vậy, mỗi phát hiện tại hiện trường tìm kiếm đều mang đến hy vọng, nhưng gia đình hiểu rằng chỉ khi hoàn tất việc xác minh mới có thể biết bà có nằm trong số những hài cốt được tìm thấy hay không.
Theo tư liệu từ Bảo tàng lịch sử quốc gia, bà Lê Thị Riêng sinh năm 1925 tại xã Vĩnh Mỹ, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu (trước đây), trong một gia đình nông dân. Mồ côi từ nhỏ, bà được người thân nuôi dưỡng, sau đó làm việc tại một xưởng dệt và tham gia phong trào cách mạng. Mùa thu năm 1945, bà hoạt động trong Phụ nữ Cứu quốc tỉnh Bạc Liêu. Những năm tiếp theo, bà đảm nhận công tác vận động phụ nữ tại Phước Long, Rạch Giá và miền Đông Nam bộ. Sau năm 1954, bà công tác trong tổ Phụ vận Xứ ủy Nam bộ; về sau tham gia Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng miền Nam Việt Nam, giữ chức Phó hội trưởng và là Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
Đảm đương những vị trí công tác ấy, đòi hỏi bà phải đi nhiều nơi, sống giữa những cuộc chia xa liên tiếp. Chồng bà là cán bộ cách mạng Lê Văn Ba, còn gọi là Lê Trọng Tam. Hai người có hai con trai là Lê Minh Chánh và Lê Chí Công. Năm 1960, khi chiến sự leo thang, để các con được an toàn và tiếp tục chuyện học, vợ chồng bà gửi hai con nhỏ ra miền Bắc. Tấm ảnh chụp cả gia đình trước cuộc ly tán trở thành bức ảnh cuối cùng có đủ bốn người.
Ít lâu sau, bà và chồng tiếp tục chia xa để nhận nhiệm vụ ở hai địa bàn khác nhau. Ông Ba hy sinh. Bà Riêng vừa chịu nỗi đau mất chồng, vừa chưa tìm được nơi ông nằm xuống. Hai con ở xa là nguồn động viên để bà tiếp tục công việc. Về sau, bà làm Trưởng ban Phụ vận Khu ủy Sài Gòn - Gia Định. Tháng 5-1967, bà bị bắt. Đêm mùng 2 Tết Mậu Thân 1968, bà cùng liệt sĩ Trần Văn Kiểu bị sát hại.
Cuộc tìm kiếm hôm nay vì thế nối tiếp một hành trình mà gia đình đã đi qua nhiều năm. Ông Công từng lần theo những địa chỉ mẹ ghi trong sổ để tìm nơi cha an nghỉ ở khu vực Dĩ An. Ông gặp từng người dân, hỏi thăm những cán bộ lớn tuổi để đối chiếu các thông tin về phần mộ mang tên liệt sĩ Lê Văn Ba. Ông kể, gia đình đã xin đưa một nắm đất từ nơi tìm thấy mộ cha về phần mộ mang tên hai vợ chồng tại Nghĩa trang Liệt sĩ TPHCM. Đó là niềm an ủi sau nhiều năm tìm kiếm và chờ một ngày được đón mẹ trở về…
Trong niềm mong ước chung có cả ước nguyện riêng, cuộc tìm kiếm sẽ đưa các liệt sĩ trở về bên gia đình. “Nếu may mắn tìm được hài cốt của mẹ, đó là điều quý giá thiêng liêng đối với gia đình tôi”, ông Công trải lòng.
Khi rời miền Nam, cả hai người con của liệt sĩ Lê Thị Riêng đều còn rất nhỏ. Những năm đầu ở miền Bắc, tin tức của mẹ đến với hai anh em qua những lá thư. Trong ký ức của ông Công, hình ảnh mẹ ở buổi chia tay chỉ còn vài nét rời rạc. Về sau, ông hiểu thêm về bà nhờ ảnh gia đình, những dòng chữ bà để lại và lời kể của những người từng sống, làm việc cùng bà.
Mùa xuân năm 1968, hai anh em biết tin mẹ hy sinh qua thầy cô ở trường. Ông Công kể người anh Minh Chánh đã khóc suốt ngày, còn mình khi ấy quá nhỏ để cảm nhận sự mất mát. Cha mẹ đều không còn, hai anh em tiếp tục lớn lên trong sự chăm sóc của thầy cô và những người đồng chí của gia đình. Trong số đó, bà Hoàng Thị Mai Khanh, vợ đồng chí Phạm Hùng, được hai người con của liệt sĩ Lê Thị Riêng gọi là mẹ vì bà đã thay người mẹ ở xa chăm lo cho hai anh em trong những năm tháng ấy.
Khi lớn hơn, những câu hỏi về mẹ cứ thế nhiều lên. Ông Công tìm gặp những người từng công tác cùng bà, hỏi về tính cách, công việc và những lúc bà nhắc đến hai con. Qua ký ức của đồng đội, ông dần hình dung rõ hơn về mẹ. Ông biết mẹ đã sống, cống hiến ra sao. Và giữa khỏi lứa chiến tranh, bà vẫn âm thầm dõi theo sự trưởng thành của Minh Chánh và Chí Công.
Lớn lên cùng nỗi nhớ, hai anh em động viên nhau chờ một ngày đất nước hòa bình sẽ được gặp lại mẹ. Nhưng khi hòa bình đến, cuộc gặp ấy đã không bao giờ thành hiện thực. Sau này, ông Lê Minh Chánh qua đời, không kịp chứng kiến cuộc tìm kiếm liệt sĩ đang được triển khai, con gái ông, chị Lê Ngọc Mai Uyên tiếp tục cùng người chú Lê Chí Công chờ tin...
Chị Uyên chia sẻ gia đình mong mỏi lực lượng tìm kiếm có thể xác định hài cốt của bà và những liệt sĩ còn nằm lại Công viên Lê Thị Riêng. Gia đình hiểu công việc ấy không dễ dàng, từng bộ hài cốt tìm thấy cần được giám định, đối chiếu để có thể gọi đúng tên người đã khuất. “Chúng tôi vừa hy vọng nhưng cũng phải thật kiên nhẫn để chờ đến ngày ấy”, chị Uyên chia sẻ.
Những bức thư, kỷ vật của liệt sĩ Lê Thị Riêng vẫn luôn được gia đình và đồng đội gìn giữ, để rồi trở thành nguồn động viên cho những người con trông mẹ. Tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia hiện còn lưu trữ cuốn sổ tay bìa cứng màu tím, kích thước 8cm x 12cm. Cuốn sổ gồm 95 tờ nhưng chỉ 10 tờ có chữ viết, 85 tờ còn lại để trắng. Ngay trang đầu, bà đề: “Mẹ tặng Minh Chánh, Chí Công”.
Trong bài lưu bút Một kỷ niệm đau xót đề ngày 4-12-1962, bà nhớ lại buổi chia tay chồng ở chiến khu miền Đông. Khi ấy, vừa chia tay hai con, vợ chồng bà lại phải nhận nhiệm vụ ở hai nơi. Bà ghi về khoảng thời gian trở lại điểm hẹn, nuôi hy vọng được gặp chồng, rồi nhận tin ông hy sinh. Nỗi đau càng day dứt khi đến lúc ngồi viết, bà vẫn chưa tìm được nấm mộ của ông.
Cũng trong bài lưu bút ấy, bà nhắc đến Minh Chánh và Chí Công đang sống xa mẹ. Hai con là nguồn hạnh phúc và sức mạnh để bà không gục xuống trước mất mát. Từ nỗi đau của gia đình mình, bà nghĩ đến một ngày trẻ nhỏ được gần cha mẹ, không còn những cuộc chia lìa vì chiến tranh.
Tết năm 1963, bà viết bài thơ Ước mơ. Trong hình dung của một người mẹ, ngày đất nước thống nhất cũng là ngày bà được đến Hà Nội, gặp Minh Chánh và Chí Công, ôm hai con vào lòng sau những năm xa cách, bình dị đến đau lòng. Nhưng, năm 1968, bà đã hy sinh khi chưa kịp thực hiện ước mơ.
Ông Lê Chí Công lưu giữ những tập thư tay mẹ gửi từ miền Nam như một phần tình mẫu tử thiêng liêng. Có một lá thư bắt đầu bằng lời gọi “Chánh và Công con trai cưng của mẹ”. Bà hỏi các con học lớp mấy, ở trường nào, có ngoan không; dặn các con viết thư, kể cho mẹ biết sức khỏe, chiều cao và cân nặng. Trong hoàn cảnh mẹ con không thể gặp nhau, những câu hỏi rất đỗi thường ngày ấy là cách bà hình dung hai con đang lớn lên từng ngày.
Không phải lá thư nào bà viết cũng gửi trực tiếp cho hai con. Qua lời kể của ông Công, nhiều thư được gửi cho những người đang chăm sóc hai con ở miền Bắc. Trong thư, bà hỏi kỹ chuyện sức khỏe, học hành của các con và cảm ơn những người đã thay mình nuôi dưỡng các con. Khi được đọc những trang thư cũ, ông thấy được tình yêu của mẹ dành cho Minh Chánh và Chí Công.
Ngày đất nước thống nhất đã đến như người Anh hùng Lực lượng vụ trang nhân dân từng mong ước và chiến đấu, nhưng người mẹ Lê Thị Riêng đã không thể trở về để ôm Minh Chánh và Chí Công của bà. Cuộc đoàn tụ trong ước mơ của người mẹ vĩnh viễn không thành hiện thực.
Nhưng hôm nay, một niềm tin đang lớn dần, bà sẽ trở về, trong một ngày không xa…
→Về trang chủ