Chủ động kiến tạo phát triển
* PHÓNG VIÊN: Luật Phát triển đô thị đã có hiệu lực từ ngày 1-10. Theo ông, tâm thế và câu hỏi lớn nhất đặt ra cho TPHCM lúc này phải thay đổi như thế nào?
- Ông ĐỖ ĐỨC HIỂN: Luật Phát triển đô thị có rất nhiều chính sách đặc thù được thiết kế phù hợp với nhu cầu, điều kiện thực tiễn của TPHCM. Luật mở ra không gian chính sách rộng hơn, trao quyền chủ động cho thành phố theo đúng tinh thần địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm.
Thành phố chuyển từ vị thế “xin cơ chế thí điểm” sang chủ động kiến tạo phát triển trên nền tảng pháp lý vững chắc. Vấn đề cốt lõi hiện nay là năng lực thực thi.
Câu hỏi không còn là “Trung ương, Quốc hội, Chính phủ cho TPHCM làm gì” mà “TPHCM sẽ quyết định và tổ chức thực hiện như thế nào” để tạo kết quả nhanh nhất, hiệu quả nhất.
* TPHCM cần làm gì để tránh tình trạng “có quyền nhưng chưa dám quyết, có cơ chế nhưng chưa khai thác triệt để”, thưa ông?
- Cùng với việc giao khoảng 240 thẩm quyền cho HĐND, UBND và Chủ tịch UBND TPHCM, Luật Phát triển đô thị còn cho phép chính quyền TPHCM được ban hành VBQPPL khi tổ chức, hướng dẫn thi hành luật. Với những nội dung đã được phân quyền, TPHCM có thể chủ động triển khai, không còn phải chờ hướng dẫn của Trung ương.
Luật cũng quy định cơ chế loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý đối với cán bộ tham gia xây dựng, ban hành các văn bản và thực hiện các thẩm quyền được giao khi không vụ lợi, đã làm đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục nhưng vẫn xảy ra thiệt hại.
Trường hợp cán bộ thực hiện nhiệm vụ vì lợi ích chung, được cơ quan có thẩm quyền kết luận không vụ lợi và vì sự phát triển chung của TPHCM, cũng được xem xét loại trừ hoặc miễn trách nhiệm pháp lý tùy theo tính chất, mức độ.
Như vậy, luật đã tạo hành lang pháp lý để cán bộ mạnh dạn thực thi nhiệm vụ. Tuy nhiên, để tránh tình trạng chậm trễ, “có quyền nhưng không dùng”, theo tôi, có 2 việc cần phải làm ngay.
Trước hết, khẩn trương cụ thể hóa tất cả nội dung đã được luật trao quyền. Đồng thời, quán triệt sâu để đội ngũ cán bộ của TPHCM nắm, hiểu đúng và chuyển hóa thành chương trình, đề án, công việc cụ thể gắn với chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị theo phương châm 6 rõ: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ kết quả.
Công cụ tháo gỡ điểm nghẽn tồn tại nhiều năm
Ảnh: HOÀNG HÙNG
* Người dân, doanh nghiệp sẽ nhận thấy hiệu quả thực thi luật qua những thay đổi cụ thể nào?
- Mỗi chính sách có mục tiêu cụ thể nhưng tựu trung lại là tạo hành lang pháp lý ổn định, tháo gỡ vướng mắc và góp phần phát triển TPHCM thành đô thị tầm quốc tế, có năng lực cạnh tranh toàn cầu theo mô hình đa cực, đa trung tâm, với kết cấu hạ tầng và phương thức quản trị thông minh, hiện đại, đúng định hướng của Nghị quyết 09-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Với người dân, kết quả phải được thể hiện bằng chất lượng của một đô thị đáng sống, lấy người dân làm trung tâm. Với doanh nghiệp, đó là việc cắt giảm điều kiện kinh doanh, thủ tục không hợp lý, không cần thiết, rút ngắn thời gian và giảm chi phí tuân thủ.
Thời gian qua, TPHCM còn đối mặt với nhiều điểm nghẽn: quy hoạch chậm, thiếu đồng bộ; phát triển đô thị chưa gắn kết chặt chẽ giữa mở rộng và chỉnh trang; tiến độ xây dựng nhà ở xã hội, cải tạo chung cư cũ, di dời nhà ven kênh rạch còn chậm; tình trạng ô nhiễm môi trường, ngập nước và xử lý chất thải còn nhiều bất cập.
Luật Phát triển đô thị cho phép TPHCM xây dựng quy hoạch tổng thể, thống nhất, cụ thể hóa các mục tiêu phát triển dài hạn. Trên cơ sở đó, thành phố được chủ động ban hành cơ chế, chính sách khai thác không gian ngầm, không gian tầm thấp, không gian tầm cao, đảm bảo hài hòa giữa yêu cầu phát triển và quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Luật cũng tạo cơ sở để thành phố ban hành chính sách ưu đãi, huy động nguồn lực, rút ngắn trình tự, thủ tục đầu tư nhà ở xã hội, nhà ở cho người thu nhập thấp, nhà lưu trú công nhân; cải tạo chung cư cũ; chỉnh trang, tái thiết các khu đô thị, khu dân cư và hệ thống kênh rạch.
Khi các quy định mới được triển khai hiệu quả, TPHCM sẽ có thêm công cụ để tháo gỡ những điểm nghẽn tồn tại nhiều năm, huy động tốt hơn các nguồn lực để góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân, nhất là khi không gian phát triển và quy mô dân số thành phố đã được mở rộng.
* Luật Phát triển đô thị đang được TPHCM khẩn trương triển khai. Cơ chế giám sát nào sẽ bảo đảm việc thực thi hiệu quả, hạn chế những tác động tiêu cực có thể phát sinh?
- Luật Phát triển đô thị ban hành không phải là một “văn bản đóng khung” mà là một “thể chế mở” nên cần liên tục được tối ưu hóa từ thực tiễn, nhất là từ thực tiễn phát triển của thành phố. Với cách tiếp cận này, luật đã dành một chương quy định rất cụ thể trách nhiệm của các cơ quan trong việc giám sát, thanh tra, kiểm tra và trách nhiệm báo cáo, giải trình.
Hàng năm, TPHCM phải báo cáo kết quả thi hành luật với Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ. Trường hợp áp dụng cơ chế, chính sách khác với quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội thì báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Chính phủ có trách nhiệm chỉ đạo theo dõi, đánh giá, kiểm soát rủi ro đối với việc thực hiện các cơ chế, chính sách.
Chính quyền TPHCM có trách nhiệm giải trình theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền khi phát sinh vấn đề theo quy định của luật. Nội dung giải trình phải được công khai theo quy định của pháp luật để Nhân dân giám sát.
Khi TPHCM được giao nhiều thẩm quyền, bao gồm cả việc ban hành VBQPPL để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật thì việc theo dõi thực tiễn triển khai, lắng nghe ý kiến của cử tri, doanh nghiệp và của chính quyền ở cơ sở càng phải được chú trọng hơn nữa. Bởi đây sẽ là những thông tin cảnh báo sớm để TPHCM có thể kịp thời điều chỉnh trong trường hợp có quy định chưa phù hợp, có độ vênh so với thực tế.
* Khi TPHCM được phân quyền mạnh hơn, cần cơ chế nào để vừa bảo đảm quyết định nhanh, vừa công khai, minh bạch và rõ trách nhiệm?
- Nội dung phân quyền cho TPHCM được xây dựng, tính toán phù hợp đối với nhu cầu, yêu cầu từ thực tiễn phát triển, năng lực thực thi của thành phố. Đồng thời, đáp ứng đúng yêu cầu "có van, có khóa". Trong đó, cơ chế kiểm soát quyền lực trong luật được xây dựng theo mô hình "phân quyền triệt để gắn với kiểm soát đa tầng". Việc phân quyền phải bảo đảm tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình gắn với trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, giám sát.
Trong từng lĩnh vực được phân quyền, các “van, khóa” được thiết kế phù hợp. Bên cạnh đó, việc chuyển từ “tiền kiểm” xin cho sang “hậu kiểm” gắn trách nhiệm giải trình cá nhân của người đứng đầu sẽ góp phần để việc thực hiện các nhiệm vụ được thực hiện kịp thời hơn. Đây cũng là chốt chặn cuối cùng để kiểm soát quyền lực hiệu quả.