Những chuyến thuyền gỗ mở đường
Sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt. Khi phong trào cách mạng miền Nam phát triển, nhất là sau Đồng khởi Bến Tre, nhu cầu vũ khí ngày càng cấp thiết. Trong khi tuyến vận tải đường bộ Trường Sơn chưa thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu chi viện, việc mở thêm một tuyến vận chuyển vào Nam trở thành đòi hỏi tất yếu.
Trước tình hình đó, từ năm 1959, Quân ủy Trung ương chỉ đạo nghiên cứu cách vận chuyển bằng đường biển. Những chuyến thuyền gỗ từ miền Nam ra Bắc trong các năm 1961-1962 đã được triển khai để vừa báo cáo tình hình, nhận vũ khí, vừa góp phần khảo sát đường đi, bến nhận hàng.
Ngày 23-10-1961, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Đoàn 759 vận tải thủy, ban đầu có 38 cán bộ, chiến sĩ.
Ở tuổi 92, cựu chiến binh Huỳnh Văn Tiến (sinh năm 1934, quê Bến Tre - nay là tỉnh Vĩnh Long, ngụ phường Phước Thắng, TPHCM, cấp bậc khi về hưu là Đại úy) vẫn còn khá minh mẫn.
Nhắc đến hành trình trên biển cách nay hơn 6 thập niên, ông vẫn nhớ như in những chuyến hành quân kiên cường cùng đồng đội giữa trùng khơi. Ông kể, phương tiện thời kỳ đầu là thuyền buồm gỗ, cải trang như ghe đánh cá. Để giữ bí mật, tàu không mang số hiệu cố định, hòa vào hoạt động của tàu thuyền ngư dân; hành trình và cách vào bến được thay đổi theo tình hình địch. Tên gọi “Đoàn tàu không số” cũng bắt nguồn từ cách hoạt động đặc biệt ấy.
Ngày 18-8-1961, chiếc thuyền do ông Lê Công Cẩn phụ trách rời bến Cồn Tra, xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre (trước đây). Trong đoàn khi ấy có thủy thủ tàu Huỳnh Văn Tiến. Quê Bến Tre, ông Tiến thoát ly theo cách mạng từ năm 14 tuổi. Trước khi nhận nhiệm vụ bí mật, ông chỉ kịp từ biệt má, không thể nói mình sẽ đi đâu. Mãi đến ngày miền Nam giải phóng, sau 15 năm xa nhà, ông mới trở về.
“Hải trình đầu tiên đầy nhọc nhằn. Thuyền lạc hướng, gặp sóng lớn, nước ngọt trong 4 phuy vỡ tung. Anh em phải căng mền hứng sương để có nước uống. Mười ngày sau, thuyền cập bến Thanh Hóa”, ông Tiến nhớ lại.
Ngày 11-10-1962, con tàu gỗ đầu tiên chở 30 tấn vũ khí rời Đồ Sơn, tám ngày sau cập bến Vàm Lũng, Cà Mau. Trong hai tháng, bốn chuyến tàu gỗ đã đưa 111 tấn vũ khí vào Khu IX. Từ những chuyến đi đầu tiên, phương tiện vận tải dần được cải tiến, tàu vỏ sắt được đưa vào sử dụng để chở hàng nặng hơn, đi biển xa hơn. Ngày 29-1-1964, Đoàn 759 đổi phiên hiệu thành Đoàn 125.
Năm 1964, ông Huỳnh Văn Tiến là Thủy thủ trưởng Tàu 41. Trong một chuyến chở 44 tấn vũ khí, tàu mắc cạn giữa rạn san hô ở quần đảo Hoàng Sa. Ông đề xuất lặn xuống buộc dây cáp vào san hô, chờ thủy triều lên rồi phối hợp kéo tàu. San hô cứa rách da thịt, máu rỉ ở tai, ông vẫn cùng đồng đội tìm cách giữ tàu và hàng.
Ông nói với Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh: “Thà tôi chết dưới lòng biển sâu chứ nhất quyết không để mất tàu, nhất quyết đưa được vũ khí vào miền Nam đánh giặc”.
Đổi cách đi, giữ mạch chi viện
Khi chiến trường miền Nam bước vào giai đoạn quyết liệt, các chuyến tàu trên biển tiếp tục tìm đường qua vùng biển bị kiểm soát gắt gao. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, yêu cầu chi viện càng khẩn trương.
Từ ngày 25 đến ngày 27-2-1968, bốn tàu của Đoàn 125 lần lượt rời các căn cứ, hướng về những bến khác nhau: Tàu 165 vào Vàm Lũng, Tàu 56 vào Lộ Giao, Tàu 43 vào Đức Phổ, Tàu 235 vào Hòn Hèo. Việc chia hướng nhằm phân tán sự theo dõi của địch; mỗi tàu phải tự cơ động, xử trí tùy tình huống trên biển.
Sáng 23-10, Lữ đoàn 125, Vùng 2 Hải quân tổ chức Lễ kỷ niệm 65 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển và Ngày truyền thống đơn vị (23-10-1961 - 23-10-2026), đón nhận Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhì và tổ chức Lễ truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho 3 liệt sĩ: Nguyễn Ngọc Lương, Chính trị viên Tàu 165 (hy sinh năm 1968); Nguyễn Tương, Chính trị viên Tàu 235 (hy sinh năm 1968); Trần Nhợ, Thủy thủ trưởng Tàu 41 (hy sinh năm 1966).
Dù đã trải qua nhiều cương vị, từ thủy thủ Tàu 56 đến Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 125 (giai đoạn 1993-1998), Đại tá Hồ Văn Kiêm (sinh năm 1945, quê tỉnh Nghệ An, ngụ tại TPHCM, hiện là Chủ tịch Hội Truyền thống Đường Hồ Chí Minh trên biển toàn quốc) vẫn không quên cuộc đấu trí giữa trùng khơi trong chuyến vượt biển năm 1968.
Ông nhớ lại: cuối tháng 2, đầu tháng 3 năm 1968, Tàu 56 chở hơn 37 tấn vũ khí, do Thuyền trưởng Nguyễn Văn Ba và Chính trị viên Đỗ Như Sản chỉ huy, hướng vào bến Lộ Giao, Bình Định. Chập tối 29-2, khi tàu còn cách bờ khoảng 40 hải lý, đèn pha địch quét tới từ hai bên mạn và phía sau. Chi ủy họp ngay trên tàu, nhận định nếu cố vào bến lúc ấy, tàu có thể bị lộ, hàng không tới nơi. Các chiến sĩ thống nhất quay ra vùng biển quốc tế, chờ thời cơ.
Sau đó, Tàu 56 nhiều lần chuyển hướng tìm cách vào bến, nhưng liên tục bị bám đuổi. Địch dùng loa gọi dừng máy, vừa đe dọa vừa dụ hàng. Ông Hồ Văn Kiêm khi ấy đứng bên vô lăng, tập trung quan sát mọi động thái giữa biển đêm. Một tàu địch bất ngờ chặn ngang trước mũi. Vũ khí đã sẵn sàng, bộc phá cũng được chuẩn bị để hủy tàu nếu bị lộ.
“Với tinh thần quyết tử, không để tàu và hàng vào tay địch, chúng tôi chắc tay súng, chuẩn bị bộc phá phá tàu, sẵn sàng hy sinh nếu bị lộ”, ông Kiêm kể về quyết tâm của anh em đồng đội. Sau nhiều giờ cơ động giữa hải phận quốc tế, tàu nhận lệnh quay về căn cứ. Chuyến ấy không đưa được vũ khí tới bến, nhưng giữ được con tàu, hàng hóa và toàn bộ thủy thủ.
Trong khi đó, ba con tàu khác đã không quay trở về được căn cứ. Tàu 165 bị vây đánh khi vào Vàm Lũng sau khi tìm cách đưa hàng xuống biển để lực lượng ở bến vớt; cả 18 cán bộ, chiến sĩ hy sinh cùng con tàu.
Tàu 235 vào được Hòn Hèo, thả hàng xuống biển rồi bị nhiều tàu địch vây đánh; 14 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, trong đó có chính trị viên Nguyễn Tương. Tàu 43 chiến đấu hơn ba giờ với tàu chiến và máy bay địch ở vùng biển Quảng Ngãi trước khi lao vào bờ, hủy tàu; 3 chiến sĩ hy sinh, 14 người còn lại được nhân dân che chở, đưa đi cứu chữa rồi tìm đường trở về đơn vị.
Những chuyến tàu “không số” và đường Hồ Chí Minh trên biển đã viết nên bản hùng ca về tinh thần mưu trí, kiên cường, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đi đến thắng lợi cuối cùng. Lữ đoàn 125 hôm nay tiếp tục đảm nhận nhiệm vụ vận tải quân sự, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, trực bảo vệ chủ quyền, tham gia cứu hộ, cứu nạn và các hoạt động hướng về Trường Sa.
Đại tá Phạm Minh Chiến, Chính ủy Lữ đoàn 125, nhấn mạnh, những bài học về bản lĩnh, mưu trí, sáng tạo và khả năng ứng phó linh hoạt của người lính “Đoàn tàu không số” vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.
Kế thừa truyền thống “mưu trí dũng cảm; khắc phục khó khăn; vận tải đường biển, chi viện chiến trường; quyết chiến quyết thắng”, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ tiếp tục rèn luyện, làm chủ phương tiện, nâng cao trình độ, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo.