Muốn vậy, doanh nghiệp cần có mức độ chủ động tương xứng với trách nhiệm được giao. Trong môi trường kinh doanh biến động nhanh, thời điểm có thể quyết định hiệu quả của một dự án. Nếu quá trình chuẩn bị và ra quyết định kéo dài, cơ hội đầu tư có thể thay đổi, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Trao quyền chủ động vì vậy cần đi cùng phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm. Điều này không đồng nghĩa nới lỏng yêu cầu quản lý vốn, tài sản nhà nước. Ngược lại, quyền chủ động càng lớn càng cần mục tiêu rõ, giới hạn rủi ro cụ thể và trách nhiệm giải trình cao. Cơ quan đại diện chủ sở hữu xác định mục tiêu, chiến lược, nguồn lực và các nguyên tắc kiểm soát; doanh nghiệp chủ động trong phạm vi được giao và chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng nguồn lực. Cách tiếp cận này giúp quản lý tập trung hơn vào mục tiêu, hiệu quả và kiểm soát rủi ro.
Cùng với trao quyền, phương thức đánh giá hiệu quả vốn nhà nước cũng cần phù hợp với đặc thù đầu tư. Bảo toàn và phát triển vốn là yêu cầu xuyên suốt, nhưng hiệu quả không chỉ được nhìn ở kết quả của từng năm mà cần tính đến chu kỳ đầu tư, giá trị tài sản hình thành và năng lực phát triển được tạo ra. Điều này đặc biệt quan trọng với những lĩnh vực hạ tầng thiết yếu cần vốn lớn, thời gian hoàn vốn dài như logistics, kho lạnh, thương mại, năng lượng, hạ tầng số hay chuỗi cung ứng. Một trung tâm logistics hay hệ thống kho lạnh không chỉ tạo doanh thu trực tiếp mà còn có thể nâng năng lực lưu thông hàng hóa, giảm chi phí chuỗi cung ứng và mở rộng thị trường. Vì vậy, hiệu quả cần được xem xét trong cả vòng đời dự án, trên cơ sở bảo đảm các nguyên tắc quản lý và sử dụng vốn nhà nước.
Một vấn đề khác cần được xác định rõ là giữa hoạt động kinh doanh và nhiệm vụ phục vụ mục tiêu công. Khi doanh nghiệp nhà nước tham gia bình ổn thị trường, bảo đảm nguồn cung, an sinh xã hội hoặc thực hiện nhiệm vụ được giao, cần có mục tiêu, tiêu chí đánh giá và cơ chế xác định chi phí phù hợp. Có như vậy mới phản ánh đầy đủ hiệu quả kinh doanh, đồng thời lượng hóa được nguồn lực doanh nghiệp dành cho các nhiệm vụ phục vụ cộng đồng.
Có thể thấy, tăng quyền chủ động không nhằm tạo thêm ưu thế cho doanh nghiệp nhà nước, mà để nguồn lực công được khai thác hiệu quả hơn. Một cơ chế phù hợp phải đáp ứng đồng thời 2 yêu cầu: tạo đủ không gian để doanh nghiệp chủ động nắm bắt cơ hội và thiết lập kỷ luật để mỗi quyết định gắn với trách nhiệm. Đi cùng quyền chủ động phải là công khai, minh bạch, giám sát, cảnh báo rủi ro và hậu kiểm. Khi quyền hạn và trách nhiệm được xác lập rõ, yêu cầu bảo toàn vốn và yêu cầu phát triển không đối lập nhau. Bảo toàn là nền tảng, còn phát triển vốn thông qua những quyết định đầu tư hiệu quả mới giúp nguồn lực nhà nước tiếp tục tạo ra giá trị mới.