Bước vào “studio 1 người”
Một bộ phim truyền thống thường bắt đầu từ kịch bản, diễn viên, trường quay và máy quay. Nhưng với phim AI, điểm khởi đầu chỉ là một câu lệnh.
Tìm đến đạo diễn Phạm Vĩnh Khương, một trong những người tiên phong ứng dụng AI vào làm phim tại Việt Nam, chúng tôi được nghe về quy trình biến những dòng mô tả thành một tác phẩm hoàn chỉnh.
Xem lại thước phim Du hành xứ thiêng, anh Khương hào hứng mở lại câu lệnh đầu tiên để phác thảo nhân vật nữ chính: “Xây dựng tạo hình một nhân vật nữ bằng chất liệu nhựa resin chất lượng cao, đường nét mịn màng theo phong cách chibi, pha giữa hip-hop và jazz với tỷ lệ đầu to, thân nhỏ, đôi mắt xanh ngọc bích, mái tóc trắng uốn lượn...”.
Để nhân vật xuất hiện nhất quán từ cảnh này sang cảnh khác, người làm phim phải mô tả cực kỳ chi tiết từng phụ kiện, trang phục, hiệu chỉnh liên tục cho đến khi AI cho ra tạo hình đạt yêu cầu.
Anh khái quát quy trình sản xuất 1 bộ phim AI thành 5 bước cơ bản: viết kịch bản phân cảnh (ChatGPT/Claude), tạo concept nhân vật cố định (Midjourney/Flux/Gemini), render chuyển động video (Seedance/Kling/Veo), làm thoại và dựng nhạc (ElevenLabs/Suno), hoàn thiện hậu kỳ, lip-sync và chỉnh màu (Premiere/CapCut).
Với độ dài hơn 4 phút, bộ phim Du hành xứ thiêng được anh và cộng sự hoàn thành trong chưa đầy 2 ngày. Nếu làm theo phương thức hoạt hình truyền thống, một ê-kíp chuyên nghiệp có thể mất hơn nửa năm. Mô hình này mở ra khái niệm “studio 1 người”, nơi 1 cá nhân có thể đảm nhận nhiều công đoạn mà trước đây cần cả đoàn phim.
Tuy nhiên, nhà văn - biên kịch Phạm Hạ Thu chia sẻ thực tế khi tập tành làm 1 phim AI: “Nhiều bạn trẻ giờ rất giỏi, nhưng sai lầm lớn của nhiều người là nghĩ rằng tiết nhịp dồn dập, nhiều kịch tính sẽ làm phim hay hơn. Việc cắt bỏ giao đãi, bỏ nguyên nhân khiến bộ phim chỉ toàn kết quả, làm mất đi cảm xúc và chi tiết.
Nhân vật không được tạo ra bằng biến cố lớn, mà bằng chi tiết nhỏ và khoảng im lặng. Cho dù AI tài giỏi tới đâu, nó chỉ biết thống kê chứ không thể thấu hiểu nỗi đau tận cùng của nhân vật để chạm vào trái tim khán giả”.
Sự bùng nổ của các công cụ AI tạo video giúp hạ thấp rào cản kỹ thuật, nhưng mở ra hệ lụy khác về bản sắc. Do phần lớn dữ liệu đào tạo, kịch bản mẫu và mô hình nhân vật của các nền tảng AI hiện nay đều bắt nguồn, chịu ảnh hưởng lớn từ thị trường Trung Quốc, nhiều bạn trẻ Việt Nam mới tập tành làm phim AI đã rơi vào cái bẫy “sao chép nguyên bản”.
Từ cách tạo hình nhân vật da trắng bệch, tóc tai, trang phục đến cách đặt lời thoại drama dồn dập, giật gân. Sự mập mờ về bản quyền lẫn bản sắc thể hiện rõ khi nhiều tài khoản trên Facebook, TikTok thản nhiên dựng các tập phim ngắn giật gân, thậm chí “mượn” thương hiệu truyền hình nổi tiếng VTV như Sống chung với mẹ chồng để thu hút lượt xem.
Thực chất, ẩn sau các tiêu đề giật gân đó là 2 xu hướng: một là phim ngắn do xưởng Trung Quốc sản xuất được AI dịch thuật và lồng tiếng robot dồn dập; hai là sản phẩm do các bạn trẻ Việt Nam tự dựng nhưng copy 100% kịch bản, lời thoại và mô-típ tranh chấp gia đình của nước ngoài.
Dù một số kênh TikTok như Câu chuyện của Thảo hay Dãy trọ cô Sáu đã nỗ lực đưa yếu tố bản địa (xóm trọ, đồ bộ, chợ dân sinh) vào phim AI, thì đa số trên không gian mạng vẫn là những thước phim với tạo hình nhân vật da trắng bệch, biểu cảm vô hồn, liên tục đẩy mâu thuẫn lên đỉnh điểm bằng màn tát tai, đấu tố dồn dập để “bẫy” người dùng nạp tiền xem tiếp.
Một bạn trẻ làm phim AI tiết lộ, quy trình tạo một thước phim gói gọn trong vài dòng prompt từ kịch bản, tạo hình nhân vật, dựng bối cảnh đến tạo nhạc nền theo cảm xúc; kịch bản thì có thể “mượn” miễn phí từ kho truyện phong phú trên mạng. Nhưng liệu bấy nhiêu có làm nên một câu chuyện phim Việt Nam?
Quy trình tự động và ranh giới cảm xúc
Từ những thử nghiệm lẻ tẻ, khái niệm “cỗ máy” sản xuất phim bắt đầu hình thành. Nếu làm một bộ phim đơn lẻ là quá trình trau chuốt thủ công thì việc sản xuất hàng trăm tập phim ngắn lại vận hành theo kiểu dây chuyền công nghiệp.
Người làm phim chỉ cần dùng công cụ cố định khuôn mặt nhân vật rồi cho AI tự động chạy để xuất ra hàng chục tập phim mỗi ngày. Sự nhanh chóng này giúp tối ưu hóa chi phí, nhưng kéo chất lượng nghệ thuật xuống hàng “mì ăn liền”.
Không chỉ vậy, AI còn cung cấp dữ liệu về hành vi người xem như: thời điểm khán giả tua nhanh/vuốt bỏ - để nhà sản xuất cài cắm các nút thắt (twist) nhằm giữ chân người dùng. Dù vậy, ranh giới giữa công nghệ và nghệ thuật chân chính vẫn rất rõ ràng. Về mặt kỹ thuật, AI thường gặp lỗi biến dạng bàn tay, ánh mắt đơ, xử lý sai hướng bóng đổ, lệch trang phục giữa các góc quay.
Đạo diễn Dũng Nghệ nhận định, AI có thể tạo ra 1 người đang khóc/cười, nhưng để tạo nên một ánh mắt thật sự khiến khán giả xúc động lại là chuyện khác.
“AI chỉ là cách chúng ta làm ra bộ phim, không phải lý do để khán giả yêu bộ phim đó”, đạo diễn Dũng Nghệ nhấn mạnh. NSƯT Trịnh Quang Tùng, Phó Tổng Giám đốc phụ trách Hãng Phim tài liệu và khoa học trung ương, lưu ý: “Nếu xác định rõ từ đầu AI là phương tiện minh họa, tái hiện thì có thể chấp nhận. Nhưng nếu đưa hình ảnh AI vào và thể hiện như một sự kiện, nhân vật có thật, ranh giới giữa minh họa và sự thật sẽ bị xóa nhòa, làm sai lệch bản chất của phim tài liệu”.
Suy cho cùng, khi công nghệ trở nên dễ tiếp cận, điều giúp người làm phim đứng vững là ở gu thẩm mỹ, góc nhìn triết học và bản sắc riêng. AI có thể giúp tạo ra bộ phim nhanh hơn, rẻ hơn, nhưng câu chuyện có chạm được cảm xúc người xem hay không vẫn là trách nhiệm của con người.
Bức tranh thị trường xuyên biên giới
Sự xuất hiện của AI không tạo ra thị trường microdrama (phim siêu ngắn thiết kế dành cho điện thoại), mà chính thị trường đã hình thành trước và AI đang tăng tốc quy mô ấy lên nhiều lần.
Việt Nam cũng đã manh nha tổ chức một số cuộc thi phim ngắn về AI như: Vietnam A.I Film 2026 với chủ đề Huyền thoại Việt qua lăng kính AI. Hay mới nhất, những ngày cuối tháng 9, Hãng phim TFS của Đài Phát thanh và Truyền hình TPHCM công bố dự án phim AI Bãi săn chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Nguyễn Đình Tú.
Tại Trung Quốc, “thủ phủ” của dòng phim ngắn, cơ quan quản lý đã chính thức công nhận microdrama từ năm 2020. Chỉ trong 8 tháng đầu năm 2026, nước này đã phát hành 430.000 tập phim ngắn (gấp 13 lần cả năm 2025), trong đó hơn 90% có sự tham gia của AI.
Nhờ AI, thời gian sản xuất 1 tập phim 3-5 phút giảm từ 3 tháng (với 5 người) xuống 1-2 ngày (chỉ cần 1 người), chi phí giảm 90%. Quy mô thị trường Trung Quốc hiện đã vượt 100 tỷ nhân dân tệ (khoảng 14,8 tỷ USD) với hơn 800 triệu khán giả. Cơn sốt này nhanh chóng lan rộng toàn cầu.
Tại Ấn Độ, các xưởng phim dùng AI để sản xuất, lồng tiếng đa ngôn ngữ và giảm 80% chi phí. Ở phương Tây, các gã khổng lồ như Disney, Fox, Peacock hay TikTok đều đã nhập cuộc đầu tư, thử nghiệm các nền tảng phim ngắn trả phí như DramaBox, My Drama, ReelShort hay LimeShorts...
Tại Việt Nam, Báo cáo Xu hướng ứng dụng di động 2026 ghi nhận lượt tải các ứng dụng xem phim ngắn quý 4-2025 tăng 271% so với cùng kỳ. Nhóm ứng dụng này đã leo lên vị trí thứ 5 về doanh thu mua hàng trong ứng dụng (IAP), đạt 11,5 triệu USD với sự áp đảo của các ứng dụng ngoại như DramaWave, ShortMax, NetShort, StardustTV...
Tất cả cho thấy microdrama đã trở thành một thị trường xuyên biên giới béo bở. Nhưng khi những “nhà máy” nội dung có thể xuất xưởng hàng trăm ngàn tập phim mỗi ngày, phía sau mỗi lượt quẹt màn hình là dòng tiền khổng lồ chảy qua biên giới.
Câu chuyện lúc này không dừng lại ở sáng tạo hay công nghệ, mà đã sang địa hạt phức tạp hơn: cơ chế thanh toán, trách nhiệm nền tảng và những khoảng trống pháp lý cần giải quyết.
Dự báo quy mô thị trường microdrama toàn cầu
Theo Media Partners Asia, doanh thu microdrama bên ngoài Trung Quốc dự báo đạt 3,6 tỷ USD trong năm nay và sẽ cán mốc 9,5 tỷ USD vào năm 2031. Thị trường hiện do 5 nền tảng lớn chi phối: ReelShort (29%), DramaBox (21%), DramaWave (13%), NetShort (10%) và GoodShort (6%).
Trong quý 1-2026, doanh thu từ mua hàng trong ứng dụng (IAP) đạt 750 triệu USD, trong đó Đông Nam Á hiện là thị trường dẫn đầu thế giới về lượng tải xuống (chiếm 32% thị phần toàn cầu).
(Nguồn: ScreenDaily, Sensor Tower)