“Bản đồ phát triển” của giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2026-2035

Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045. Trong đào tạo, trường đại học phải chuyển từ “đào tạo những gì mình đang có” sang “đào tạo những gì đất nước và xã hội cần”.

Việt Nam sẽ phát triển từ 3 -5 cơ sở đại học tinh hoa. Ảnh: KIỀU TRINH
Việt Nam sẽ phát triển từ 3 -5 cơ sở đại học tinh hoa. Ảnh: KIỀU TRINH

Ngày 21-9, Bộ GD-ĐT cho biết, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu vừa ký ban hành Quyết định số 1810/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045.

Chiến lược không chỉ đặt ra các chỉ tiêu đến năm 2030 hay 2035, mà tạo ra sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển và quản trị đại học. Một trường đại học không thể chỉ quan tâm tuyển được bao nhiêu sinh viên, mà phải trả lời được: nhà trường đào tạo nhân lực cho lĩnh vực nào; giải quyết vấn đề gì của đất nước; kết quả đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao đã tạo ra giá trị gì cho xã hội.

Đến năm 2035, Việt Nam phấn đấu có 100% cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn; tỷ lệ học đại học trong nhóm dân số 18-22 tuổi đạt 45%; người học sau đại học chiếm 15%; người học STEM chiếm 40% quy mô ở mỗi trình độ; 90% người tốt nghiệp có việc làm phù hợp trong 12 tháng.

Theo Bộ GD-ĐT, mỗi trường đại học phải được nhận diện bằng chất lượng và giá trị đóng góp cho đất nước, không chỉ bằng quy mô đào tạo.

Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045 được xem là “bản đồ phát triển” của giáo dục đại học Việt Nam, đồng thời là căn cứ để sắp xếp mạng lưới, giao nhiệm vụ và đầu tư nguồn lực trong giai đoạn tới. Tinh thần xuyên suốt là chuyển từ phát triển chủ yếu theo quy mô sang phát triển theo chất lượng, hiệu quả và mức độ đóng góp.

Trước hết, hệ thống được phân loại theo nhóm giáo dục đại học đại chúng để mở rộng cơ hội tiếp cận; các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm làm nòng cốt thực hiện nhiệm vụ quốc gia, ngành và vùng; một số đại học tinh hoa phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới. Điều đó xác định rõ sứ mạng, tiêu chuẩn, trách nhiệm và cơ chế đầu tư của từng nhóm cơ sở.

Đáng chú ý, chiến lược đã đổi mới phương thức đầu tư: không phân bổ dàn đều mà tập trung theo sứ mạng và sản phẩm đầu ra. Chiến lược định hướng lựa chọn khoảng 30 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, trong đó phát triển từ 3 -5 cơ sở thành đại học tinh hoa; ưu tiên các ngành then chốt, công nghệ chiến lược và nhiệm vụ phát triển quốc gia.

Cũng theo Bộ GD-ĐT, chiến lược lấy chất lượng đầu ra và tác động kinh tế - xã hội làm thước đo. Chất lượng phải được thể hiện qua năng lực người học, việc làm sau tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và mức độ đóng góp cho ngành, địa phương và đất nước.

Theo chiến lược, giai đoạn tới giáo dục đại học phải chuyển rõ từ tăng quy mô sang nâng chất lượng và hiệu quả. Trong tuyển sinh, mục tiêu không còn là “tuyển đủ”, mà là tuyển đúng, tuyển người học phù hợp và bảo đảm chất lượng. Chỉ tiêu tuyển sinh phải căn cứ vào chất lượng nguồn tuyển, đội ngũ, cơ sở vật chất, nhu cầu nhân lực và khả năng có việc làm sau tốt nghiệp.

Trường đại học phải chuyển từ “đào tạo những gì mình đang có” sang “đào tạo những gì đất nước và xã hội cần”. Dữ liệu về nhu cầu nhân lực, việc làm, thu nhập và phản hồi của doanh nghiệp phải trở thành căn cứ để mở ngành, điều chỉnh chương trình và xác định quy mô đào tạo.

Các ngành không bảo đảm chất lượng hoặc nhu cầu thấp phải được rà soát; các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược và ngành thiết yếu cần được hỗ trợ bằng học bổng, đặt hàng và giao nhiệm vụ.

Thông tin về chất lượng chương trình, việc làm và thu nhập sau tốt nghiệp phải được công khai, kiểm chứng để người học lựa chọn có căn cứ.

Nhà nước sẽ tập trung nguồn lực cho các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, đại học tinh hoa và các ngành chiến lược; phát triển từ 20-25 trung tâm nghiên cứu xuất sắc cấp quốc gia và 10 trung tâm nghiên cứu xuất sắc cấp quốc tế, với nòng cốt là các phòng thí nghiệm trọng điểm, hợp tác với doanh nghiệp công nghệ lớn và đại học uy tín trên thế giới.

Đồng thời, chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2035 thu hút khoảng 5.000 giảng viên, nhà khoa học, chuyên gia quốc tế và trí thức Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu tại Việt Nam.

Theo thống kê của Bộ GD-ĐT, năm học 2025-2026, toàn hệ thống có hơn 2,728 triệu người học, trong đó khoảng 2,58 triệu sinh viên đại học và 144.000 người học sau đại học.

Tỷ lệ sinh viên đại học trong nhóm dân số 18-22 tuổi tăng từ 26,83% năm học 2023-2024 lên 36,16% năm học 2025-2026.

Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt 36,3%.

Tin cùng chuyên mục