Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn với người tự nguyện nhận tội

Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) đang lấy ý kiến, dự kiến trình Quốc hội tại kỳ họp vào tháng 10-2026. Trong dự thảo có đề xuất mở rộng áp dụng thủ tục rút gọn đối với bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội.

Đề xuất hướng đến hành vi tự nguyện của bị can, bị cáo

Tháng 8-2025, Tòa án nhân dân (TAND) quận 1 (cũ), TPHCM xét xử sơ thẩm hai bị cáo về tội “Chứa mại dâm”. Dù chứng cứ được đánh giá là rõ nhưng bị cáo N.T.T. chỉ thừa nhận hành vi chứa mại dâm đối với một người; còn bị cáo Đ.M.T. kêu oan, cho rằng mình không liên quan việc chứa mại dâm, do vậy tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Tại phiên xét xử tiếp theo, tòa án phải mất nhiều thời gian đối chiếu lời khai với biên bản đối chất, dữ liệu ghi âm, ghi hình và các chứng cứ khác, trước khi tuyên án với 2 bị cáo. Các bị cáo kháng cáo kêu oan, nhưng xét xử phúc thẩm sau đó, TAND TPHCM chỉ giảm án phạt tù. Tính từ ngày truy tố đến khi xét xử phúc thẩm, tổng thời gian xử lý vụ án là 1 năm 9 tháng.

Ngược lại, tháng 1-2025, TAND quận 4 (cũ), TPHCM tuyên phạt B.T.K. 1 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Suốt quá trình tố tụng, bị cáo thừa nhận hành vi đánh một cô gái sau va chạm giao thông. Do vậy, vụ án được điều tra, truy tố và xét xử chỉ trong một tháng, bảo đảm tính phòng ngừa chung đối với vụ việc được dư luận quan tâm.

xetxu.jpg
Các bị cáo trong một vụ xét xử hình sự được dẫn giải đến TAND TPHCM. Ảnh: SONG MAI

Tại khoản 2, Điều 22 dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) đề xuất bổ sung trường hợp bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt thì có thể áp dụng thủ tục rút gọn, ngoài các trường hợp theo Điều 456 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành.

Việc áp dụng thủ tục này phải căn cứ khoản 2, Điều 445 dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), bảo đảm bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt và đồng ý áp dụng thủ tục rút gọn; được giải thích đầy đủ về quyền, nghĩa vụ và hậu quả pháp lý khi áp dụng thủ tục rút gọn; việc nhận tội phải phù hợp với các chứng cứ khác, lời nhận tội phải phù hợp với các chứng cứ khách quan, không được là chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội; cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có trách nhiệm chứng minh tội phạm.

Theo khoản 1, Điều 457 dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm khi có đủ các điều kiện.

Cụ thể, bị can, bị cáo phải tự nguyện nhận tội để hưởng khoan hồng; đã khắc phục hoặc cam kết khắc phục hậu quả; có biên bản ghi nhận việc nhận tội và đồng ý áp dụng thủ tục rút gọn; có đủ chứng cứ xác định hành vi phạm tội, người thực hiện tội phạm và các tình tiết của vụ án, nội dung nhận tội phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án.

Điều 456 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành quy định, thủ tục rút gọn được áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm khi có đủ 4 điều kiện: Người thực hiện hành vi bị bắt quả tang hoặc tự thú; sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng.

Không phải cứ nhận tội là được xét xử nhanh

Theo ý kiến của một số chuyên gia, đề xuất trên là sự tiến bộ so với quy định hiện hành, trong đó nổi bật 3 khía cạnh: tính tự nguyện của việc nhận tội, phân tích chứng cứ độc lập, và cơ chế chuyển về thủ tục thông thường khi việc nhận tội không đúng.

Theo TS Trần Thanh Thảo, giảng viên Trường Đại học Luật TPHCM, cơ chế này giúp rút ngắn thời gian giải quyết vụ án, giảm chi phí, áp lực cho các cơ quan tiến hành tố tụng và tập trung nguồn lực cho những vụ án phức tạp khác.

Tuy nhiên, không nên hiểu thủ tục rút gọn theo hướng cứ nhận tội là có thể kết tội, tránh tạo tâm lý rằng muốn được xử nhẹ thì phải nhận tội. Việc nhận tội phải hoàn toàn tự nguyện, được bảo đảm quyền bào chữa và phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Nói cách khác, khi áp dụng phải giữ vững nguyên tắc suy đoán vô tội, quyền bào chữa và tính độc lập của tòa án trong xét xử.

Trong vụ án có đồng phạm, nhận tội không đồng nghĩa đương nhiên được hưởng hình phạt nhẹ hơn. Người tổ chức, cầm đầu dù nhận tội vẫn phải được đánh giá theo vai trò, mức độ tham gia và tính chất nguy hiểm của hành vi.

TS - luật sư Nguyễn Thị Kim Vinh (nguyên Thẩm phán TAND tối cao) cho rằng, áp dụng cơ chế rút gọn nhưng cần giữ vững nguyên tắc “trọng chứng hơn trọng cung”. Nếu chỉ dựa vào lời nhận tội để rút ngắn quá trình tố tụng sẽ có thể dẫn đến nguy cơ oan sai, nhất là khi người bị buộc tội nhận tội do áp lực tâm lý, muốn được khoan hồng hoặc nhận tội thay.

Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) cũng cần đề xuất “cơ chế phanh”, tức là nếu xuất hiện chứng cứ mới, mâu thuẫn trong lời khai, thay đổi lời nhận tội, tranh chấp về vai trò đồng phạm hoặc dấu hiệu cho thấy việc nhận tội không tự nguyện thì phải kịp thời chuyển sang thủ tục thông thường.

Tin cùng chuyên mục