Hôm qua, 1-10, Bộ Thông tin - Truyền thông (TT-TT) đã tổ chức hội thảo “Quản lý hoạt động truyền hình trả tiền”. Hội thảo này nhằm lấy ý kiến hoàn thiện cho bản dự thảo (lần 6) về Quy chế Quản lý hoạt động truyền hình trả tiền mà Bộ TT-TT đang chủ trì soạn thảo và dự kiến sẽ trình lên Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ra quyết định vào cuối năm nay. Bên lề hội thảo, phóng viên SGGP đã có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ TT-TT Đỗ Quý Doãn.
- PV: Hiện nay, với xu hướng xã hội hóa các chương trình truyền hình, có hiện tượng nhiều đài truyền hình “bán kênh” cho một số doanh nghiệp, công ty thực hiện. Trước khi quy chế trên được ban hành, Bộ TT-TT đánh giá vấn đề này như thế nào?
Thứ trưởng Bộ TT-TT Đỗ Quý Doãn
Thực ra xu hướng xã hội hóa là rất đáng khuyến khích trong lĩnh vực truyền hình để huy động các nguồn lực khác nâng cao chất lượng của chương trình truyền hình để phục vụ tốt cho nhân dân. Về nguyên tắc, đây là lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, nên xã hội hóa như thế nào, thì đài truyền hình vẫn là cơ quan chịu trách nhiệm toàn bộ về mọi nội dung chương trình kể cả chương trình đó là chương trình liên kết thực hiện sản xuất. Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ TT-TT đã ban hành một thông tư về liên kết sản xuất chương trình phát thanh truyền hình. Đây là một văn bản bước đầu rất quan trọng để điều chỉnh hoạt động liên kết để sản xuất chương trình truyền hình hay còn gọi là xã hội hóa...
Sản xuất một chương trình truyền hình rất tốn kém, trong lúc nguồn ngân sách của các đài truyền hình có mức độ. Việc huy động nguồn lực của các tổ chức, cá nhân có năng lực làm việc này là rất cần thiết. Nhưng cần phải xác định nội dung này là do ban biên tập, giám đốc, tổng biên tập phải chịu trách nhiệm, nên đòi hỏi vai trò quản lý, trách nhiệm của cơ quan báo chí và đài phát thành truyền hình là hết sức quan trọng và cần thiết. Nếu buông lỏng điều này thì rất dễ bị người tham gia liên kết lợi dụng đưa vấn đề ngoài quy định vào phát sóng.
- Hiện nhiều đài truyền hình như VTC, truyền hình cáp SCTV có rất nhiều kênh được xem là thuộc một số doanh nghiệp tự sản xuất chương trình và nội dung hoàn toàn chỉ đơn thuần là giải trí hoặc bán hàng. Thứ trưởng nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
- Vấn đề là quản lý nội dung đó có đảm bảo yêu cầu đề ra hay không? Những nội dung hay tính đặc thù của các kênh chuyên biệt đó đã được xác định và phải thực hiện theo đúng quy định thì nên khuyến khích. Những trường hợp lợi dụng việc đó để thực hiện những việc vượt quá phạm vi nội dung trong giấy phép của cơ quan quản lý cấp thì phải xử lý. Như tôi đã nói, các kênh chuyên biệt đó có thể là do những đối tác thực hiện, nhưng về pháp lý là do ban biên tập của đài phát sóng đó phải chịu trách nhiệm. Ví dụ, với SCTV, tất cả những giấy phép của Bộ TT-TT là cấp cho Đài Truyền hình Việt Nam. Vì vậy, nếu nội dung trên SCTV có trái quy định, thì VTV sẽ phải chịu trách nhiệm.
- Có cảm giác thời gian qua, sự quản lý của Bộ TT-TT và các cơ quan chức năng đã không theo kịp với sự phát triển của mạng truyền hình cáp cũng như sự mở rộng của các kênh dịch vụ truyền hình trả tiền ở Việt Nam?
- Thực ra, có một số vấn đề bị hiểu nhầm ở các địa phương cũng như nhiều cấp. Tôi khẳng định là không hề có đài truyền hình nào “phát chui”, hay không không có giấy phép hoạt động ở Việt Nam cả. Tất cả các dịch vụ truyền hình, các đài phát sóng ở Việt Nam đều được cấp phép. Có chăng đó là trong có quá trình hoạt động, một số đài mở thêm kênh mà chưa xin phép bổ sung, hoặc tăng thêm nội dung chương trình mà chưa kịp xin thêm hoặc gia hạn. Đó chính là việc mà cơ quan quản lý Nhà nước phải thực thi chức năng thanh tra, kiểm tra của mình để rà soát và xử lý kịp thời. Chính vì sự gia tăng của các kênh truyền hình với dịch vụ truyền hình trả tiền hiện nay, nên Thủ tướng Chính phủ với giao cho Bộ TT-TT soạn thảo Quy chế Quản lý hoạt động truyền hình trả tiền. Tôi tin rằng, sau khi quy chế này được ban hành, việc quản lý cũng như việc thanh tra, kiểm tra, xử lý những sai phạm trên lĩnh vực này sẽ dễ dàng và minh bạch hơn rất nhiều.
- Thưa Thứ trưởng, phải chăng việc quản lý lĩnh vực này hiện chưa rõ ràng và còn nhiều vấn đề vướng mắc?
- Đúng là việc quản lý nội dung, kinh doanh dịch vụ, cũng như mạng truyền hình và mạng viễn thông chưa có sự thống nhất, tách bạch, nên dẫn đến việc lúng túng, thậm chí có sai khi xử lý những vấn đề liên quan. Trước đây, tất cả đều bị quy về “một rọ” là đài truyền hình, nơi có giấy phép cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền; rồi đó là sự lẫn lộn giữa nhà cung cấp dịch vụ và nhà thiết lập hạ tầng mạng. Với quy chế này, chúng ta sẽ có sự tách bạch 4 đối tượng: 1. Nhà cung cấp nội dung chính là đài truyền hình và việc quản lý nội dung sẽ theo Luật Báo chí; 2. Nhà cung cấp dịch vụ hạ tầng kỹ thuật mạng truyền hình trả tiền là các doanh nghiệp được cấp phép thiết lập hạ tầng mạng viễn thông và sở hữu mạng viễn thông, sẽ bị quản lý theo các các quy định của pháp luật về viễn thông; 3. Đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền là các doanh nghiệp được cấp phép cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền. Đây chính là những người bán hàng, cũng như việc phát hành sách báo, văn hóa phẩm và họ phải có giấy phép kinh doanh “mặt hàng” này, chứ không chịu sự điều chỉnh của Luật Báo chí hay Luật Viễn thông trong thời gian tới; 4. Đối tượng người tiêu dùng. Họ là những người trả tiền và sử dụng các dịch vụ mà 3 đối tượng trên sản xuất, truyền tải, và cung cấp trên thị trường. Với quy chế này, 3 đối tượng đầu, mỗi đối tượng sẽ bị điều chỉnh theo những quy định riêng, từ đó không bị “lẫn lộn” trong việc xử lý như hiện nay. Và chúng ta cũng sẽ quy rõ trách nhiệm của mỗi bên trong lĩnh vực này, nhất là khâu sản xuất nội dung và khâu cung cấp dịch vụ...
Theo số liệu của Bộ TT-TT, hiện nay cả nước có 47 đơn vị đã được cấp phép hoạt động truyền hình cáp, 9 đơn vị cung cấp dịch vụ truyền dẫn tín hiệu truyền hình cáp. Trên cả nước chỉ còn một địa phương chưa có mạng truyền hình cáp là Lai Châu. Ngoài ra, có 4 đơn vị đang được cấp phép thử nghiệm cung cấp dịch vụ truyền hình giao thức Internet trên mạng viễn thông. Vào tháng 9-2003, lượng thuê bao của hệ thống truyền hình trả tiền mới chỉ đạt con số 80.000 thuê bao tập trung chủ yếu tại Hà Nội và TPHCM. Sau 6 năm, số thuê bao đã tăng hơn 20 lần. |
TRẦN LƯU (thực hiện)