Tạo đường băng đủ rộng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa "cất cánh"

Tạo đường băng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa "cất cánh": Tăng lượng phải tăng chất

LTS: Cả nước hiện có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó hơn 98% là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Lực lượng đông nhưng từ đông đến mạnh vẫn còn một khoảng cách lớn. Để doanh nghiệp đứng vững và lớn mạnh, cần tạo một đường băng đủ rộng, kết nối thị trường, vốn, công nghệ, nhân lực và thể chế, giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực và tiến sâu hơn vào chuỗi giá trị.

DNNVV chiếm trên 98% số doanh nghiệp cả nước. Nếu lực lượng đông đảo này nâng được năng suất, mở rộng thị trường và tiến lên những nấc cao hơn trong chuỗi giá trị, phần giá trị tăng thêm cho nền kinh tế sẽ rất lớn.

Bắt nhịp thị trường để mở rộng quy mô đầu tư

Từ một xưởng hơn 1.000m² trong con hẻm nhỏ ở quận 12 trước đây, Công ty TNHH Sản xuất Thương mại In Minh Mẫn hiện có nhà máy hơn 10.000m² tại Khu công nghiệp Tân Phú Trung, xã Củ Chi, TPHCM, cung ứng sản phẩm cho Panasonic, Sharp, Sanyo, Unilever…

congty.jpeg
Công ty TNHH In Minh Mẫn, đường D2, Khu Công nghiệp Tân Phú Trung, Củ Chi, TPHCM
Ảnh: MAI HOA

Theo ông Nguyễn Văn Mẫn, Tổng Giám đốc công ty, để đáp ứng yêu cầu của khách hàng lớn, doanh nghiệp phải nâng đồng thời năng lực sản xuất, chất lượng, quản trị và giao hàng. Công ty lần lượt áp dụng 5S, Kaizen, ISO 9001, ISO 14001, tiến tới mô hình nhà máy thông minh.

Năm 2021, doanh nghiệp đầu tư nhà máy với tổng vốn 99,4 tỷ đồng, trong đó 50,3 tỷ đồng vốn vay được hỗ trợ lãi suất. Doanh nghiệp cũng tiếp tục cải tiến quản trị, nâng chuẩn và kết nối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), doanh nghiệp sản xuất lớn.

Ở quy mô lớn hơn, Công ty cổ phần Xây dựng Thương mại Đại Dũng cho thấy, khi doanh nghiệp đủ sức bước vào thị trường giá trị cao, cơ hội có thể lan sang mạng lưới nhà cung ứng trong nước.

Theo ông Trịnh Tiến Dũng, Chủ tịch HĐQT công ty, tháng 7-2026, doanh nghiệp ký hợp đồng trị giá hơn 60 triệu USD với đối tác Hoa Kỳ, cung cấp sản phẩm cơ khí chế tạo và thiết bị công nghiệp cho các dự án trung tâm dữ liệu, nhà máy điện khí với yêu cầu khắt khe về độ chính xác, an toàn và truy xuất nguồn gốc.

Song song với đầu tư công nghệ, thiết kế, chế tạo và quản trị, Công ty Đại Dũng kết nối các nhà cung cấp thép, nhựa, cơ khí phụ trợ, logistics trong nước cùng tham gia chuỗi. “Muốn tạo giá trị gia tăng cao hơn, doanh nghiệp Việt phải dựa nhiều hơn vào trí tuệ, thiết kế, công nghệ và năng lực quản trị do mình làm chủ”, ông Dũng nhấn mạnh.

Thực tế cho thấy, thị trường mở ra cơ hội, nhưng chính yêu cầu của thị trường buộc doanh nghiệp phải nâng chuẩn để nắm bắt cơ hội đó. TS Cao Hoàng Long, Viện Năng suất Việt Nam, nhận định vòng đời sản phẩm, dịch vụ ngày càng ngắn, trong khi AI, tự động hóa và dữ liệu lớn đang thay đổi cách doanh nghiệp tạo ra giá trị và vận hành.

Với DNNVV chiếm trên 98% tổng số doanh nghiệp, mỗi bước tiến về năng suất, công nghệ, quản trị và vị trí trong chuỗi, nếu diễn ra trên diện rộng, sẽ tạo thêm một phần giá trị gia tăng đáng kể cho nền kinh tế.

Khoảng trống lớn nằm ở năng lực nội tại

Sự trưởng thành của một số ít doanh nghiệp chưa làm thay đổi thực tế khu vực DNNVV đông về số lượng nhưng chưa mạnh và chưa thật sự vững. Đến hết tháng 7-2026, cả nước có hơn 1,066 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, trên 98% là DNNVV.

sochetom.jpg
Sơ chế, phân loại tôm nguyên liệu tại Công ty cổ phần Kinh doanh thủy hải sản Sài Gòn
 (Khu Công nghiệp Tân Tạo, phường Tân Tạo, TPHCM). Ảnh: HOÀNG HÙNG

Khảo sát đầu năm 2026 do Cục thống kê Quốc gia thực hiện trên 20.000 doanh nghiệp, cho thấy 9,2% doanh nghiệp gặp khó do năng lực cạnh tranh hạn chế, thiết bị, công nghệ lạc hậu. Riêng với công nghiệp chế biến, chế tạo, 13,1% doanh nghiệp gặp khó do thiết bị, công nghệ lạc hậu, 21,2% khó khăn về tài chính và 25,3% không tuyển được lao động đáp ứng yêu cầu. Đáng chú ý, 90,3% doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong quý 1-2026 có vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng.

Bà Whitney Phạm, thành viên Ban điều hành Global Onchain Economic Alliance (GOEA), nhận định: “Khoảng trống lớn nằm ở năng lực nội tại của doanh nghiệp, từ công nghệ, nhân lực, đổi mới sáng tạo đến khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế.

Phần lớn DNNVV khó tiếp cận nguồn vốn phù hợp để đầu tư, nâng cấp. Nếu không tiếp cận được nguồn vốn, doanh nghiệp sẽ rất khó đầu tư vào con người, công nghệ, đổi mới sáng tạo và các tiêu chuẩn quốc tế. Đây mới là gốc rễ của bài toán năng lực cạnh tranh”.

Những điểm nghẽn này cũng đang được nhận diện trong quá trình sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ DNNVV. Vấn đề không chỉ nằm ở doanh nghiệp thiếu nguồn lực, mà còn ở khoảng cách từ chính sách đến thực tế.

dohoa.png
Nguồn: Sở Công thương TPHCM, Liên đoàn Doanh nghiệp TPHCM, Hiệp hội DNNVV TPHCM
 (TỔNG HỢP: ÁI VÂN - ĐỒ HỌA: NGỌC TRÂM)

Bà Trịnh Thị Hương, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và Kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) cho biết, DNNVV còn hạn chế về vốn, công nghệ, lao động có kỹ năng. Năng suất và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn thị trường chưa cao. Trong khi đó, một số chính sách triển khai chậm, thủ tục phức tạp, tiêu chí chưa rõ. Số doanh nghiệp tiếp cận các quỹ hỗ trợ hoặc quỹ bảo lãnh tín dụng còn chưa tới 1%.

Thực tế này đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức hỗ trợ theo hướng dễ tiếp cận và thực chất hơn. Chính sách không chỉ giúp doanh nghiệp giải quyết khó khăn trước mắt mà phải tạo năng lực để nâng chuẩn, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Bài toán của hơn 1 triệu doanh nghiệp không còn là làm sao tăng thêm số lượng, mà làm sao để doanh nghiệp tồn tại, tích lũy, nâng năng suất và lớn lên. Với lực lượng chiếm trên 98% tổng số doanh nghiệp, chỉ cần ngày càng nhiều DNNVV vượt được từng ngưỡng phát triển, phần giá trị gia tăng về năng suất, việc làm, thị trường và năng lực sản xuất tạo thêm cho nền kinh tế sẽ rất đáng kể.

* Bà PHAN THỊ THẮNG, Thứ trưởng Bộ Công thương:

phanthithang.jpeg
Bà Phan Thị Thắng

Hỗ trợ doanh nghiệp nâng năng lực, đáp ứng các tiêu chuẩn mới

Điều doanh nghiệp Việt Nam cần là phải tiếp cận trực tiếp thị trường để hiểu khách hàng quốc tế cần gì. Do đó, Bộ Công thương xác định tiếp tục phát huy vai trò của mạng lưới Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài, tăng cường cung cấp thông tin thị trường, kết nối cung - cầu, hỗ trợ doanh nghiệp nâng năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn mới và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Khi nhu cầu của thị trường được chuyển thành những yêu cầu cụ thể về sản phẩm, chất lượng, tiêu chuẩn và năng lực cung ứng, doanh nghiệp có cơ sở xác định mình thiếu gì để đầu tư. Đơn hàng và thị trường khi đó trở thành điểm xuất phát, kéo theo nhu cầu về vốn, công nghệ, nhân lực và quản trị, thay vì từng nguồn lực hỗ trợ được triển khai tách rời đầu ra.

* TS NGUYỄN ĐẮC BÌNH MINH, Phó Viện trưởng Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia:

binhminhjpeg.jpg
TS Nguyễn Đắc Bình Minh

Rút ngắn quãng đường từ công nghệ đến thị trường

Điểm nghẽn không chỉ nằm ở tạo ra công nghệ mà còn ở quãng đường từ công nghệ đến sản phẩm, sản xuất và thị trường. Với DNNVV, quãng đường này càng khó đi do hạn chế nguồn lực cho R&D, thử nghiệm và thương mại hóa. Doanh nghiệp không nhất thiết phải tự sở hữu tất cả phòng thử nghiệm, chuyên gia hay năng lực R&D.

Điều quan trọng là có thể tiếp cận những nguồn lực đó thông qua hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với chi phí phù hợp, qua đó rút ngắn quá trình đưa công nghệ thành sản phẩm. Vì vậy, hỗ trợ đổi mới không nên dừng ở chuyển giao hay ứng dụng công nghệ. Thước đo cuối cùng phải là công nghệ có tạo ra sản phẩm, nâng năng suất và đi được ra thị trường hay không. Muốn DNNVV lớn lên bằng đổi mới sáng tạo, phải nối liền hành trình công nghệ - sản phẩm - sản xuất - thị trường.

* TS ĐÀO MINH TÚ, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam:

daominhtu.jpg
TS Đào Minh Tú

Minh bạch dữ liệu, mở rộng tín dụng DNNVV

Mở rộng tín dụng cho DNNVV không thể chỉ dựa vào tài sản bảo đảm. Khi dữ liệu về dòng tiền, đơn hàng, doanh thu và lịch sử thanh toán đủ minh bạch, ngân hàng có thêm căn cứ đánh giá năng lực kinh doanh và khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Điểm cần tháo gỡ là dữ liệu DNNVV hiện còn phân tán. Mỗi ngân hàng xây dựng hệ thống riêng nhưng thiếu một nền tảng thông tin thống nhất.

Vì vậy, cần hình thành cơ sở dữ liệu DNNVV trên phạm vi cả nước, chuẩn hóa và kết nối thông tin để ngân hàng thẩm định, xếp hạng tín nhiệm nhanh và chính xác hơn. Khi đó, doanh nghiệp có thể chứng minh năng lực bằng chính hoạt động kinh doanh và dòng tiền, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào tài sản thế chấp.

Nhưng dữ liệu chỉ có giá trị khi doanh nghiệp minh bạch. DNNVV phải chuẩn hóa sổ sách, báo cáo tài chính, dòng tiền, hoàn thiện quản trị và hồ sơ pháp lý. Ngân hàng thay đổi cách đánh giá thì doanh nghiệp cũng phải thay đổi cách chứng minh năng lực. Đây là điều kiện để tín dụng đi đến những doanh nghiệp có phương án khả thi và khả năng sử dụng vốn hiệu quả.

ÁI VÂN - HẠNH NHUNG ghi

Tin cùng chuyên mục