Thực trạng dữ liệu hệ thống đại học
Theo TS Nguyễn Sơn Hải, Quyền Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ và Thông tin (Bộ GD-ĐT), đến nay, 100% CSGDĐH đã sử dụng các phần mềm quản lý, quản trị nhà trường. Dữ liệu được hình thành trong hầu hết các hoạt động cốt lõi như tuyển sinh, quản lý chương trình đào tạo, tổ chức đào tạo, quản lý sinh viên, đội ngũ, khoa học công nghệ, tài chính, tài sản, thư viện và các dịch vụ hỗ trợ người học.
Cơ sở dữ liệu HEMIS đã được hình thành với quy mô lớn, từng bước tạo nền tảng dữ liệu dùng chung của toàn hệ thống. Đến nay, HEMIS đã hình thành dữ liệu của khoảng 470 cơ sở đào tạo đại học và cao đẳng, trên 25.000 chương trình đào tạo, trên 100.000 hồ sơ cán bộ và gần 3 triệu hồ sơ người học. Qua đó, bộ bước đầu có được bức tranh dữ liệu tương đối toàn diện về quy mô và hoạt động của hệ thống GDĐH, tạo nền tảng để đổi mới quản lý nhà nước, thống kê và hoạch định chính sách.
Trọng tâm hiện nay đã chuyển từ tạo lập dữ liệu sang rà soát, chuẩn hóa, làm sạch, xác thực và ký số dữ liệu đã có, bảo đảm dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất dùng chung”.
Theo kết quả rà soát đến ngày 20-9, tỷ lệ dữ liệu người học hoàn thành ký số đạt 75,1%, dữ liệu đội ngũ đạt 62%; 216/487 cơ sở thuộc phạm vi và soát đã ký số dữ liệu, đạt 44,4%. Bộ đang tiếp tục đôn đốc các CSGDĐH khẩn trương hoàn thành 100% việc rà soát, làm sạch và ký số dữ liệu về cơ sở đào tạo, người học và đội ngũ.
Về dữ liệu văn bằng số đang từng bước được hình thành, tạo dữ liệu về kết quả đầu ra của quá trình đào tạo. Đối với GDĐH, đến tháng 9 đã số hóa khoảng 3,9 triệu văn bằng đại học, thạc sĩ, tiến sĩ trên tổng quy mô dữ liệu lịch sử khoảng 7 triệu văn bằng đạt 51,3%.
Việc số hóa văn bằng không chỉ nhằm chuyển văn bằng giấy sang môi trường điện tử. Quan trọng hơn là hình thành dữ liệu có khả năng xác thực, tra cứu, kết nối và tái sử dụng; qua đó phục vụ người học, cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý và người sử dụng lao động, đồng thời góp phần phòng, chống gian lận văn bằng.
Theo đánh giá của Cục Khoa học Công nghệ và Thông tin (Bộ GD-ĐT), cơ sở dữ liệu là nguồn tài nguyên rất lớn và là tiền đề quan trọng để chuyển đổi phương thức quản trị đại học. Tuy nhiên, do các hệ thống được đầu tư qua nhiều thời kỳ, bởi nhiều nhà cung cấp khác nhau nên dữ liệu còn phân tán trong nhiều hệ thống; tiêu chuẩn và cấu trúc dữ liệu chưa hoàn toàn thống nhất; khả năng kết nối, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu còn hạn chế.
Tập trung rà soát, số hóa và hoàn thiện dữ liệu dùng chung
Theo Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn, chuyển đổi số là một trong 7 nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống giáo dục đại học trong năm học 2026-2027 và định hướng đến năm 2030. Do đó, các CSGDĐH phải tập trung hoàn thiện cơ sở dữ liệu trên HEMIS thành cơ sở dữ liệu GDĐH “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.
TS Nguyễn Sơn Hải, Quyền Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ và Thông tin (Bộ GD-ĐT) cho biết, trước mắt các cơ sở giáo dục tập trung hoàn thành 100% việc rà soát, làm sạch, xác thực và ký số dữ liệu về cơ sở đào tạo, người học và đội ngũ; xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục đại học đối với tính đầy đủ, chính xác và kịp thời của dữ liệu.
Đặc biệt, phải chuyển căn bản phương thức cập nhật dữ liệu từ “các trường báo cáo dữ liệu lên HEMIS” sang “các hệ thống quản trị của trường kết nối, đồng bộ dữ liệu tự động với HEMIS”. Các CSGDĐH thực hiện kết nối qua giao diện lập trình ứng dụng (API) theo hướng dẫn của bộ và phải hoàn thành trước 30-11. Dữ liệu được tạo lập tại đâu thì cập nhật từ đó, một dữ liệu chỉ tạo lập một lần và được tái sử dụng nhiều lần; hạn chế tối đa yêu cầu báo cáo lại những thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu.
Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện mở rộng các nhóm dữ liệu về chương trình đào tạo, tuyển sinh, quá trình và kết quả đào tạo, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và các dữ liệu cần thiết khác, để HEMIS thực sự trở thành dữ liệu “sống” phản ánh hoạt động đầy đủ, toàn diện của hệ thống giáo dục đại học.
Số hóa văn bằng, chứng chỉ
Theo Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học Nguyễn Tiến Thảo, các cơ sở giáo dục tiếp tục chiến dịch số hóa dữ liệu văn bằng. Trước mắt ưu tiên nhóm dân số còn trong độ tuổi lao động, trong đó tập trung dữ liệu văn bằng của những người sinh từ năm 1970 trở lại đây (hoàn thành trước 30-11).
Việc số hóa phải đồng thời với chuẩn hóa, đối soát và làm sạch dữ liệu; gắn văn bằng với mã định danh cá nhân, căn cước công dân; thực hiện ký, xác thực dữ liệu theo quy định; hiển thị dữ liệu văn bằng lên ứng dụng VneID và đưa vào sử dụng thủ tục hành chính không dùng giấy tờ. Trên HEMIS và cơ sở dữ liệu văn bằng, từng bước hình thành dữ liệu quốc gia về nguồn nhân lực.
Đây là bước phát triển có ý nghĩa chiến lược: HEMIS và cơ sở dữ liệu văn bằng sẽ cho biết một người được đào tạo ở đâu, ngành gì, trình độ gì, quá trình và kết quả đào tạo ra sao, tốt nghiệp khi nào. Khi nguồn dữ liệu này được kết nối theo mã định danh cá nhân với dữ liệu về người lao động, việc làm, bảo hiểm xã hội, thuế và các nguồn dữ liệu có liên quan, chúng ta có thể từng bước theo dõi được kết quả sau đào tạo và hình thành bức tranh về nguồn nhân lực quốc gia.
Bộ GD-ĐT đang phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan xây dựng cơ chế kết nối, khai thác dữ liệu việc làm, bảo hiểm xã hội, thuế; trước mắt ưu tiên kết nối dữ liệu văn bằng, kết quả tốt nghiệp với dữ liệu việc làm.
Qua đó, từng bước xây dựng bản đồ nguồn nhân lực, theo dõi sự phân bố và dịch chuyển nhân lực theo ngành, lĩnh vực, trình độ và vùng; phục vụ dự báo cung - cầu nhân lực, điều chỉnh cơ cấu và quy mô đào tạo, đặt hàng đào tạo, phân bổ lực và đánh giá hiệu quả chính sách phát triển nhân lực.
Đích đến không phải là có thêm nhiều cơ sở dữ liệu, mà là hình thành một hệ sinh thái dữ liệu giáo dục đại học “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung” trong đó dữ liệu đào tạo được kết nối với dữ liệu sử dụng lao động, từng bước hình thành dữ liệu nguồn nhân lực quốc gia.