Hơn 5 năm chờ đợi mốc giá mới
Trong phiên đấu giá định kỳ mùa thu về Nghệ thuật hiện đại và đương đại của Sotheby's Hồng Công (Trung Quốc) diễn ra vào cuối tháng 9, có 18 tác phẩm thuộc phân khúc Việt Nam (do các nghệ sĩ Việt, gốc Việt sáng tác hoặc có nội dung gắn với Việt Nam) được đưa ra đấu giá. Kết quả cuối cùng, toàn bộ 18 tác phẩm đều tìm được chủ nhân mới. Trong đó, 13 tác phẩm có giá vượt ước tính trần, tất cả đều vượt ước tính sàn.
Tâm điểm là Conversation d'élégantes au jardin (Hoa viên nhã đàm, 1939) của họa sĩ Vũ Cao Đàm, chất liệu lụa, khổ 85,6 x 114,5cm. Tác phẩm được gõ búa ở mức 28,96 triệu HKD, tương đương 3,69 triệu USD gồm cả thuế phí. Mức giá này vượt kỷ lục 3,11 triệu USD của bức Portrait de Mademoiselle Phuong (Chân dung cô Phượng) của họa sĩ Mai Trung Thứ, cũng được xác lập tại Sotheby's Hồng Công (Trung Quốc) ngày 18-4-2021.
Như vậy, thị trường tranh Việt đã phải chờ hơn 5 năm mới có một cột mốc giá mới. Với kết quả lần này, họa sĩ Vũ Cao Đàm có tác phẩm thứ hai vượt mốc triệu USD, sau Femmes au bain (Tắm tiên, 1944) được gõ búa năm 2020 với giá 1,04 triệu USD. Đặc biệt, trong 5 tác phẩm hội họa Việt Nam có mức giá đấu cao nhất từ trước đến nay thì nhà đấu giá Sotheby's đã chiếm đến 4 tác phẩm.
Theo giám tuyển Ace Lê, cố vấn cao cấp của Sotheby's, phiên đấu giá vừa qua cũng cho thấy nhiều dấu hiệu tích cực: Sức mua không dồn vào một phân khúc tầm cao như trước mà trải đều từ tầm cao đến tầm trung; tỷ lệ khách trong nước chiếm phần lớn. Sức mua đa dạng, nền tảng kinh tế đang tăng trưởng tốt và môi trường chính trị ổn định đang góp phần tạo điều kiện quan trọng để hình thành một thị trường nghệ thuật bền vững.
Trần Lưu Hậu và tín hiệu từ thế hệ họa sĩ kháng chiến
Bên cạnh những tên tuổi quen thuộc gắn với dòng tranh Đông Dương (các họa sĩ tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, 1925 - 1945), phiên đấu giá lần này còn ghi nhận một kết quả mang tính báo hiệu. Công viên 15 (sáng tác năm 2005), tranh acrylic khổ lớn 160 x 405cm của họa sĩ Trần Lưu Hậu, được gõ búa mức 360.000USD (hơn 9 tỷ đồng), vượt hơn gấp đôi ước tính trần. Đây cũng là mức giá kỷ lục trên sàn đấu giá của một tác phẩm thuộc thế hệ họa sĩ khóa kháng chiến.
Trần Lưu Hậu (1928-2020) là gương mặt tiêu biểu của thế hệ họa sĩ kháng chiến. Ông theo học khóa Mỹ thuật kháng chiến (1950-1953) do họa sĩ Tô Ngọc Vân phụ trách, sau đó được cử sang học tại Học viện Mỹ thuật Surikov (Moskva, Liên Xô), rồi giảng dạy tại Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội gần 30 năm.
Năm 2001, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật. Ông được xem là một trong “bộ tứ” họa sĩ kháng chiến: Nhân - Hòa - Hậu - Kiệm (Lưu Công Nhân, Lê Huy Hòa, Trần Lưu Hậu và Nguyễn Trọng Kiệm).
Từ cuối thập niên 1980, trong không khí Đổi mới, phong cách hội họa của ông chuyển dần từ hiện thực sang bán trừu tượng rồi trừu tượng. Đề tài vẫn là biển, phố phường, cây cối, hoa và thiếu nữ, nhưng cách nhìn và cách vẽ đã khác. Công viên 15 được trưng bày lần đầu trong triển lãm cá nhân tháng 4-2005 tại Hà Nội, là tác phẩm tiêu biểu cho bước chuyển này. Nét bút dài, mạnh, dứt khoát; màu sắc được đặt cạnh nhau với độ tự tin hiếm thấy; kinh nghiệm thiết kế sân khấu biến tấm toan lớn thành một không gian của hình và sắc. Khi ông qua đời, đại diện Hội Mỹ thuật Việt Nam đã đánh giá ông là “một người thầy lớn của mỹ thuật Việt Nam”.
Với nhiều nhà sưu tập, mức giá của Công viên 15 là một tín hiệu đáng lưu tâm. Nếu dòng tranh Đông Dương lâu nay vẫn được xem là “blue chip” (tài sản có giá trị bền vững), thì thế hệ họa sĩ kháng chiến nhiều khả năng là chặng tiếp theo. Dĩ nhiên, đây mới là dự đoán, và một kết quả đơn lẻ chưa đủ để khẳng định xu hướng. Nhưng việc một tác phẩm của thế hệ này đạt mức vượt xa kỳ vọng cho thấy thị trường bắt đầu nhìn nhận đầy đủ hơn giá trị nghệ thuật của một giai đoạn quan trọng trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam.
Cũng tại phiên đấu giá mùa thu về Nghệ thuật hiện đại và đương đại của Sotheby's Hồng Công (Trung Quốc), nhiều tác phẩm khác của họa sĩ Việt Nam hoặc có đề tài về Việt Nam cũng đạt kết quả tốt: Mélodie (Nhã nhạc, 1950) của Mai Trung Thứ đạt 587.000USD, Le retour (Đi chợ về, 1933) của Joseph Inguimberty đạt 342.000USD, Abandon (Chờ đợi, 1946) của Lê Phổ đạt 277.000USD và Đền Angkor Wat (1938) của Trần Bình Lộc đạt 244.000USD.