Để trở thành quốc gia biển mạnh, Việt Nam cần xây dựng những trung tâm kinh tế biển mạnh, có tính dẫn dắt, điển hình là TPHCM. Đây là cửa ngõ biển chiến lược nhất của nền kinh tế phía Nam, hội tụ nhiều thế mạnh hiếm có. Muốn đi xa, TPHCM nên có cách tiếp cận mới: xây dựng một hệ điều hành kinh tế biển.
TPHCM hình thành và phát triển như một đô thị cảng. Từ rất sớm, các vùng Cần Giờ, Gành Rái, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, Bến Nghé, Chợ Lớn đã là nơi những dòng hàng hóa, dòng người và dòng vốn gặp nhau. Hàng hóa từ miền Tây, miền Đông, Campuchia theo sông rạch, kênh đào và đường biển tụ về TPHCM rồi đi ra thế giới. Thành phố này vốn có ưu thế vì đứng đúng ở nơi các dòng chảy gặp nhau. Hiện nay, các dòng chảy ấy không chỉ là lúa gạo, nông sản hay hàng hóa truyền thống, mà còn có hàng công nghiệp, linh kiện, năng lượng, dữ liệu hậu cần, vốn đầu tư, bảo hiểm, tín dụng xanh và dịch vụ hàng hải. Vì vậy, câu chuyện TPHCM hướng ra biển chính là đang tìm lại bản năng lịch sử của mình, nhưng ở một cấp độ mới: một siêu đô thị biển. Nhìn vào bài học từ Singapore, TPHCM không nên đặt mục tiêu chỉ là một thành phố có cảng lớn, mà phải trở thành trung tâm dịch vụ hàng hải của khu vực, với hệ sinh thái bao quanh cảng: tài chính, bảo hiểm, luật, trọng tài, quản lý tàu, công nghệ, nhiên liệu sạch, dữ liệu…
Sau hợp nhất, TPHCM có một tổ hợp rất hiếm: trung tâm tài chính, thị trường tiêu dùng lớn, công nghiệp tại khu vực Bình Dương trước đây, sân bay Long Thành ở cửa ngõ phía Đông, kết nối với Đồng Nai, Tây Ninh, đồng bằng sông Cửu Long, cùng hệ thống cảng biển mở rộng từ Cát Lái, Hiệp Phước, Nhà Bè sang cụm cảng Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, đặc biệt là Cái Mép - Thị Vải. Lần đầu tiên, TPHCM có thể nhìn toàn bộ không gian Cần Giờ - Gành Rái - Cái Mép - Thị Vải - Phú Mỹ - Long Sơn - Vũng Tàu - Bình Châu - Côn Đảo như một chỉnh thể. Trước đây, mỗi địa phương đứng ở một bờ của cùng một vùng vịnh và phát triển theo mục tiêu riêng. Bây giờ, TPHCM có thể đặt câu hỏi lớn hơn: làm thế nào để biến vùng vịnh này thành vùng vịnh chiến lược của Việt Nam?
Gành Rái không nên được nhìn như một vùng nước nằm giữa các dự án. Đây là một không gian kinh tế chiến lược, nơi cảng biển, hậu cần, năng lượng, công nghiệp, tài chính, du lịch, sinh thái và quốc phòng cùng hội tụ. Nếu nhìn ở quy mô rộng, vùng Gành Rái có khoảng 1.000km2 mặt nước. Bên cạnh đó là hơn 75.000ha rừng ngập mặn Cần Giờ. Nghĩa là vùng này vừa có tiềm năng cảng biển và công nghiệp, vừa có nền tảng sinh thái rất hiếm, không nhiều đô thị biển trong khu vực có được. Tuy nhiên, có một điểm cần nhìn rất kỹ: phần vùng nước được che chắn bên trong, tức khu vực vùng vịnh kín tính từ tuyến kết nối Cần Giờ - Vũng Tàu vào trong, chỉ khoảng 200km2. Đây là một không gian rất nhỏ nếu đặt cạnh tham vọng hàng hải đang được quy hoạch cho khu vực. Nói cách khác, Gành Rái là một vùng vịnh lớn nếu nhìn như một cấu trúc đô thị - sinh thái - kinh tế. Nhưng đây lại là một không gian chật nếu nhìn từ bài toán phát triển hệ sinh thái biển.
Trong bối cảnh đó, kinh tế biển TPHCM trong giai đoạn mới nên được tổ chức quanh sáu trụ cột: cảng biển và hậu cần quốc tế; khu thương mại tự do và dịch vụ sau cảng; công nghiệp biển và năng lượng sạch; dịch vụ hàng hải giá trị cao; du lịch biển và đô thị biển; sinh thái biển và rừng ngập mặn Cần Giờ. Trong đó, Cần Giờ là phòng thí nghiệm của đô thị biển xanh, nơi cảng trung chuyển, đô thị sinh thái, công nghệ môi trường, giao thông sạch và bảo tồn rừng ngập mặn được đặt trong cùng một kỷ luật phát triển. Điểm đột phá nằm ở chiến lược tổng thể cho vùng vịnh Cần Giờ - Gành Rái, trong đó đất liền, mặt nước, luồng tàu, cảng, hậu cần, năng lượng, sinh thái, du lịch và đô thị được tổ chức như một hệ thống - hệ điều hành kinh tế biển.
TPHCM hướng tới trung tâm hàng hải hàng đầu châu Á
Trở thành trung tâm biển mạnh, giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, trung tâm logistics và hàng hải quốc tế hàng đầu châu Á vào năm 2045 là tầm nhìn TPHCM đặt ra trong kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW. Đến năm 2030, thành phố hướng tới hình thành nền tảng vững chắc để trở thành trung tâm kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh, có sức cạnh tranh quốc tế, với những mục tiêu cụ thể như tăng trưởng du lịch biển, đảo bình quân 14%/năm; giá trị sản xuất nuôi biển tăng bình quân 8%/năm; phấn đấu hoàn thành 100% tuyến đường bộ ven biển trên địa bàn…
Theo kế hoạch, thành phố tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách và quy hoạch không gian biển; thúc đẩy cơ chế khu thương mại tự do, logistics tích hợp, cảng mở, phân cấp và phân quyền để thu hút đầu tư. Nguồn lực được huy động theo hướng đầu tư công dẫn dắt, kết hợp hợp tác công - tư, tài chính xanh và các nhà đầu tư chiến lược.
Hạ tầng cảng biển được đặt trong mạng lưới kết nối đường bộ, đường thủy, đường sắt và các trung tâm logistics. Cái Mép - Thị Vải - Cần Giờ được định hướng phát triển cảng xanh, thông minh; đồng thời thành phố mở rộng dịch vụ giá trị cao như bảo hiểm, tài chính hàng hải, quản trị chuỗi cung ứng, gắn với trung tâm tài chính quốc tế.
Khoa học, công nghệ và nhân lực là nhóm giải pháp xuyên suốt, như xây dựng dữ liệu dùng chung, bản đồ số biển và ven biển; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ quan trắc; tăng liên kết giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học. Thành phố cũng đặt yêu cầu phục hồi rừng ngập mặn Cần Giờ, hệ sinh thái Côn Đảo, kiểm soát nguồn thải và chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU)… Vai trò chủ thể của người dân, doanh nghiệp được gắn với cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường và chủ quyền biển, đảo.
Nút thắt lớn nhất với phát triển kinh tế biển ở TPHCM ở chỗ hệ thống cảng, không gian sau cảng và không gian mặt nước còn manh mún. Thành phố có cảng nước sâu, cảng sông, khu công nghiệp, năng lượng, hậu cần, đô thị cảng, nhưng nhiều phần đang vận hành theo logic riêng lẻ. Cảng, đất đai, luồng tàu, hải quan, quốc phòng, năng lượng, môi trường, đường bộ, đường thủy, đường sắt do nhiều cấp khác nhau quản lý. Điều này không sai về mặt hành chính, nhưng nếu không có một cơ chế điều phối đủ mạnh, vùng Gành Rái sẽ bị chia nhỏ theo ngành, theo dự án và theo thẩm quyền. Khi đó, rủi ro không nằm ở một dự án cụ thể, mà nằm ở tổng thể: mỗi dự án đều có thể hợp lý khi đứng một mình, nhưng cộng lại có thể làm giảm năng lực chiến lược của cả vùng vịnh.
Một con số rất đáng chú ý là riêng khu vực Cái Mép - Thị Vải có khoảng 35 bến cảng, trong đó hơn 20 bến đã hoạt động. Con số này cho thấy năng lực cảng rất lớn. Nhưng nếu muốn mạnh, các cảng phải được phân vai, kết nối, điều phối luồng hàng, chia sẻ hạ tầng hậu cần và gắn với dịch vụ giá trị cao. Nghiên cứu mới nhất về không gian biển TPHCM cho thấy thách thức còn lớn hơn. Lượng container được quy hoạch đến năm 2030 có thể lên khoảng 38 triệu TEU/năm, gấp đôi hiện nay; trong đó khoảng 33 triệu TEU từ cụm cảng cửa ngõ khu vực và 5 triệu TEU từ cảng trung chuyển. Hệ thống hậu cần đất liền sẽ phải xử lý thêm 71%-90% lượng hàng hóa, trong khi năng lực kết nối hậu phương cảng hiện đã có dấu hiệu quá tải.
Quy mô hàng hóa được quy hoạch cho Cần Giờ - Cái Mép - Thị Vải đang tiến vào cùng thang bậc với các trung tâm hàng hải lớn trong khu vực. Nhưng khác với Singapore, nơi toàn bộ hệ sinh thái cảng - đô thị - dịch vụ - quản trị được tổ chức như một hệ thống thống nhất, TPHCM đang phải xử lý tham vọng rất lớn ấy trong một vùng nước kín chỉ khoảng 200km2 ở khu vực lõi, lại nhạy cảm sinh thái và có quá nhiều chức năng chồng lấn.
Rủi ro lớn nhất của Gành Rái trong giai đoạn tới vì vậy có thể là quá nhiều dự án lớn cùng dồn vào một vùng biển hữu hạn mà chưa có một hệ điều hành chung. Dự án đường vượt biển Cần Giờ - Vũng Tàu là ví dụ. Đây không thể chỉ được xem là một dự án giao thông, mà là một quyết định có thể ảnh hưởng đến năng lực hàng hải quốc gia trong nhiều thế hệ. Một cây cầu, một hầm vượt biển, một tuyến cáp, một đảo nhân tạo, một khu cảng nếu đặt sai chỗ đều có thể làm thu hẹp vùng quay trở, vùng neo đậu, độ an toàn luồng tàu hoặc khả năng mở rộng của hệ thống cảng trong tương lai. Luồng tàu nếu bị khóa lại bởi một quyết định sai thì rất khó sửa.
Luật Phát triển đô thị mở ra một cơ hội quan trọng vì luật tạo khung cho các mô hình phát triển đặc thù hơn: đô thị đặc biệt, khu kinh tế đặc biệt, khu đô thị lấn biển, phát triển quanh các đầu mối giao thông công cộng, khai thác giá trị đất tăng thêm, phân cấp, phân quyền và cơ chế thí điểm. Tuy nhiên, luật không tự động tạo ra tăng trưởng, mà chỉ mở cửa. TPHCM có thể bước qua cánh cửa đó bằng một đề án mạch lạc. Thành phố nên xây dựng Đề án Hành lang Kinh tế biển đặc biệt Cần Giờ - Gành Rái - Cái Mép. Đây không phải là một khu đất có hàng rào hay một khu ưu đãi thuế đơn thuần, mà là một thiết chế quản trị mới cho không gian biển - đất liền - hậu phương cảng. Nếu hiểu đúng, đặc khu kinh tế biển sẽ giúp thành phố làm ba việc: giữ quyền ưu tiên cho hàng hải dài hạn; phân vai các khu vực trong vùng vịnh; quản trị bằng dữ liệu.
Điện gió ngoài khơi mở thêm nguồn lực cho kinh tế biển, góp phần chuyển dịch năng lượng sạch, phát triển công nghiệp và dịch vụ kỹ thuật. Cơ chế đầu tư cần gắn với quy hoạch không gian biển, bảo vệ môi trường và sinh kế người dân.
Điện gió đã có giai đoạn phát triển nhanh, với khoảng 1,4GW điện gió ven biển được đưa vào vận hành, giúp Việt Nam trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu ASEAN về năng lượng tái tạo. Các địa bàn duyên hải như Khánh Hòa, Lâm Đồng, Cà Mau, Cần Thơ… đã thu hút nhiều dự án, tạo việc làm và thúc đẩy kinh tế địa phương. Nhiều nghiên cứu ước tính tiềm năng điện gió ngoài khơi của Việt Nam có thể lên tới hơn 900GW.
Hàng trăm dự án điện gió được đăng ký, nhưng số dự án triển khai và vận hành thương mại còn ít, đặc biệt là điện gió ngoài khơi quy mô lớn. Tại nhiều địa phương miền Trung và miền Nam, nơi tập trung các trang trại điện gió, điện mặt trời, lưới điện không tải hết công suất, dẫn đến cắt giảm 20%-30% sản lượng. Điện gió ngoài khơi đòi hỏi công nghệ cao, vốn lớn và chuỗi cung ứng phức tạp. Tiến độ triển khai vì thế chậm hơn kỳ vọng trong quy hoạch. Cơ chế, chính sách còn thiếu hoặc chưa hoàn thiện, từ khảo sát tiềm năng, quy hoạch, đấu thầu, giá điện đến hợp đồng mua bán điện (PPA). Những vướng mắc còn nằm ở việc cấp phép khảo sát, cấp phép sử dụng khu vực biển và phí thuê mặt biển.
Ngoài ra, dự án phải qua nhiều cấp phê duyệt, với các thủ tục về đất đai, không gian biển, môi trường, quy hoạch, đấu nối, làm tăng thời gian và rủi ro pháp lý cho nhà đầu tư. Cơ chế giá FIT (giá bán điện cố định) đã hết hiệu lực từ năm 2021, trong khi cơ chế đấu thầu, giá điện mới chưa đủ tính khuyến khích, khiến nhiều nhà đầu tư chần chừ. Các dự án vốn lớn, rủi ro cao còn cần cơ chế vay ưu đãi, bảo lãnh tín dụng và phân bổ rủi ro phù hợp.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW và Nghị quyết số 218/NQ-CP đã xác định rõ mục tiêu phát triển điện gió ngoài khơi 6-10GW đến năm 2030, đặt ra yêu cầu hoàn thiện quy hoạch, cơ chế, chính sách phát triển điện gió ngoài khơi, điện mặt trời trên biển và các loại hình năng lượng khác. Nghị quyết 218 đưa “hoàn thiện thể chế và đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia” vào chương trình hành động của Chính phủ.
Việc tích hợp quy hoạch điện với quy hoạch không gian biển giúp xác định vùng phát triển, vùng hạn chế, vùng cấm, giảm xung đột với hàng hải, quốc phòng và ngư trường. Các định hướng này mở ra cơ hội gỡ những vướng mắc về thể chế, tài chính và hạ tầng lưới điện. Yêu cầu chuyển giao công nghệ đối với nhà đầu tư nước ngoài cần gắn với việc hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển năng lượng biển.
Tôi đề xuất xem xét chọn 2-3 cụm dự án điện gió ngoài khơi ưu tiên tại các vùng có tiềm năng cao, gần trục lưới 500kV và cảng nước sâu để làm “đầu tàu”. Thí điểm cần gắn với yêu cầu chuyển giao công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa và đào tạo nhân lực để có cơ sở nhân rộng. Có thể kết nối điện gió ngoài khơi với hydrogen, amoniac xanh, khử mặn nước biển, điện sóng, điện triều và nuôi biển công nghệ cao để tăng giá trị khai thác không gian biển. Một hướng đề xuất là phát triển 5-6 trung tâm kinh tế biển mạnh, trong đó điện gió là hạ tầng nền, kéo theo logistics, công nghiệp ven biển và dịch vụ kỹ thuật.
Ngày 12-9, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) cho biết các đơn vị thành viên vừa hoàn thành, hạ thủy và vận chuyển thành công 4 trạm biến áp ngoài khơi thuộc dự án Baltica 2 tại Ba Lan. Sự kiện đánh dấu mốc lần đầu xuất khẩu sản phẩm điện gió ngoài khơi sang châu Âu, cho thấy cơ hội tham gia chuỗi cung ứng thiết bị.
Với xuất khẩu điện, cuối năm 2023, Singapore phê duyệt có điều kiện nhập khẩu 1,2GW điện tái tạo từ Việt Nam. Đây là cơ hội về đầu ra, cần được hiện thực hóa bằng các điều kiện đầu tư và hạ tầng phù hợp. Phê duyệt có điều kiện mới là đánh giá sơ bộ về tính khả thi kỹ thuật và thương mại. Dự án vẫn cần đáp ứng các điều kiện về hợp đồng, cơ chế trong nước và tiến độ triển khai để chuyển sang phê duyệt chính thức.
Trước những cơ hội đó, việc triển khai Nghị quyết 20 và Nghị quyết 218 có thể tạo điều kiện khai thác cơ hội xuất khẩu điện trên nhiều mặt. Trước hết, thị trường nhập khẩu giúp mở thêm đầu ra cho điện gió ngoài khơi.
Kế hoạch xuất khẩu 1,2GW điện sang Singapore là một hướng tiêu thụ tiềm năng, nhưng phê duyệt có điều kiện chưa thể coi là đầu ra đã được bảo đảm. Tiếp đó là khả năng thu hút vốn và công nghệ. Hợp đồng nhập khẩu dài hạn, nếu được xác lập, có thể tăng sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển chuỗi cung ứng và dịch vụ kỹ thuật.
Thành công của dự án này có thể mở đường cho các thỏa thuận tương tự với Thái Lan, Malaysia hoặc mở rộng công suất với Singapore, từng bước định vị Việt Nam là trung tâm năng lượng sạch của khu vực. Để tiến tới xuất khẩu, cần hoàn thiện cơ chế giá, hợp đồng mua bán điện, cơ chế truyền tải và chính sách đầu tư. Các văn bản triển khai phải rõ ràng, hợp đồng minh bạch, lộ trình hạ tầng cụ thể để doanh nghiệp tính toán vốn, công nghệ và tiến độ dự án.