Mục tiêu cụ thể đến năm 2030, Việt Nam làm chủ, tiếp nhận và chuyển giao một số công nghệ tiên tiến; hình thành và phát triển sản xuất trong nước một số nguyên liệu làm thuốc thiết yếu, chiến lược và có lợi thế cạnh tranh, ưu tiên hoạt chất, nguyên liệu khởi đầu, hóa chất trung gian và tá dược; từng bước hình thành năng lực sản xuất công nghiệp và thương mại hóa sản phẩm hóa dược.
Chương trình cũng nêu, phấn đấu đáp ứng khoảng 20% nhu cầu nguyên liệu làm thuốc phục vụ sản xuất thuốc trong nước, trong đó ưu tiên nâng cao tỷ lệ tự chủ đối với các hoạt chất, nguyên liệu làm thuốc thiết yếu và chiến lược. Bên cạnh đó, hình thành ít nhất 2 trung tâm nghiên cứu và triển khai về hóa dược đạt trình độ tiên tiến, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, có năng lực nghiên cứu, phát triển quy trình, thử nghiệm, mở rộng quy mô, chuyển giao và hỗ trợ thương mại hóa công nghệ, sản phẩm hóa dược.
Đồng thời, phấn đấu 100% cơ sở sản xuất hoạt chất, tá dược và nguyên liệu làm thuốc khác ở trong nước đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, thực hành tốt (GMP) và an toàn hóa chất theo quy định pháp luật và tiêu chuẩn áp dụng đối với từng loại sản phẩm; tối thiểu 50% cơ sở sản xuất áp dụng các giải pháp số trong quản lý sản xuất, quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc...
Mục tiêu đến 2045, hóa dược Việt Nam trở thành ngành công nghiệp công nghệ cao.
Để đạt được các mục tiêu trên, chương trình đặt ra các nhiệm vụ, giải pháp về thể chế, pháp luật; giải pháp khoa học - công nghệ, nhân lực và đào tạo; giải pháp về hợp tác quốc tế; xúc tiến thương mại, thông tin và truyền thông; giải pháp về tài chính và đầu tư… Trong đó, có giải pháp tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, cơ sở giáo dục đại học và cơ sở nghiên cứu trong đào tạo theo nhu cầu thực tế của doanh nghiệp; phát triển các chương trình đào tạo lại, đào tạo nâng cao và đào tạo theo vị trí việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp hóa dược và hội nhập quốc tế…