Sau một tháng luật này đi vào cuộc sống (có hiệu lực từ ngày 1-10-2026), thực tiễn đã phần nào cho thấy TPHCM đang tháo gỡ hiệu quả các điểm nghẽn, nút thắt theo đúng tinh thần 6 rõ: rõ người - rõ việc - rõ thời gian - rõ trách nhiệm - rõ sản phẩm - rõ thẩm quyền.
Những bất cập về dân sinh gây bức xúc lâu nay như kẹt xe, ngập nước, dự án nhà ở chậm tiến độ... không phải là mới. Thành phố đã nhận diện và triển khai nhiều chương trình, đề án để giải quyết. Tuy nhiên, bên cạnh những khó khăn khách quan về nguồn lực, cơ chế và điều kiện thực hiện, những hạn chế chủ quan trong tổ chức thực thi làm gia tăng thời gian, chi phí xã hội và bỏ lỡ cơ hội đầu tư, phát triển cũng cần được thẳng thắn nhìn nhận.
TPHCM đã có “bộ ba” nền tảng cho chặng đường phát triển mới, gồm Nghị quyết 09-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TPHCM trong kỷ nguyên mới, Luật Phát triển đô thị và Quy hoạch tổng thể TPHCM thời kỳ 2025-2050, tầm nhìn 100 năm vừa được HĐND TP thông qua. Chủ trương đã rõ, cơ chế đã mở, định hướng phát triển đã xác lập. Vấn đề mấu chốt là năng lực tổ chức thực thi đưa cơ chế, chính sách vào thực tiễn.
Tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy TPHCM mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã giao nhiều nhiệm vụ quan trọng. Trong đó, đồng chí nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục đổi mới tư duy tự chủ, nâng cao năng lực thực thi và giải quyết công việc đến kết quả cuối cùng. Đây là yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh TPHCM đang có những điều kiện thuận lợi hơn về thể chế và không gian phát triển. Luật Phát triển đô thị trao nhiều thẩm quyền và quan trọng là thành phố phải cụ thể hóa, khai thác triệt để.
Thực tế, sau một tháng Luật Phát triển đô thị có hiệu lực, HĐND TPHCM đã ban hành 42 nghị quyết; UBND TPHCM cũng đã ban hành nhiều văn bản triển khai. Các nghị quyết, văn bản đã ban hành tập trung vào các nhóm cơ chế, chính sách, gồm: tổ chức bộ máy, chế độ công vụ và ban hành văn bản quy phạm pháp luật; quy hoạch, xây dựng, phát triển đô thị và trật tự, an toàn đô thị; phát triển kinh tế; phát triển văn hóa, thể thao, du lịch, giáo dục, đào tạo, y tế, an sinh xã hội; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; nguồn lực phát triển đô thị đặc biệt; liên kết, phát triển vùng.
Những số liệu nói trên chứng minh sự vào cuộc quyết liệt của cấp ủy, chính quyền TPHCM khi thực thi Luật Phát triển đô thị. Đặc biệt, TPHCM xác định một đầu mối chịu trách nhiệm xuyên suốt, giao đủ thẩm quyền điều phối và xử lý vướng mắc. Mỗi nhiệm vụ phải rõ người phụ trách, rõ thời hạn, rõ sản phẩm và rõ trách nhiệm khi không hoàn thành. Không thể để tình trạng nhiều cơ quan cùng tham gia nhưng không có đầu mối chịu trách nhiệm đến cùng.
Cùng với đó, đổi mới phương thức kiểm tra, giám sát tiến độ. Thay vì chỉ nghe báo cáo định kỳ, thành phố dần hoàn thiện cơ chế theo dõi thường xuyên các mốc công việc, kịp thời nhận diện khâu ách tắc để chỉ đạo tháo gỡ ngay dựa trên dữ liệu.
Một vấn đề quan trọng khác là trách nhiệm, động lực của đội ngũ cán bộ. TPHCM mạnh dạn tạo điều kiện để cán bộ chủ động thực hiện nhiệm vụ trong khuôn khổ pháp luật, bảo vệ khi năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Điều này không đồng nghĩa với việc buông lỏng quản lý, mà phải gắn liền với cơ chế tăng cường kiểm soát quyền lực, xử lý nghiêm tình trạng đùn đẩy, trì hoãn, thiếu trách nhiệm làm ảnh hưởng đến công việc chung.
Việc triển khai thực hiện hiệu quả Luật Phát triển đô thị đang bước vào giai đoạn tăng tốc, đòi hỏi cấp thiết là năng lực của mỗi cán bộ, đơn vị, địa phương. Kết quả thực hiện phải được lượng hóa, có thể kiểm chứng, nhất là đối với các công trình, dự án trọng điểm và những vấn đề dân sinh bức thiết.