Bộ Chính trị vừa ban hành Kết luận số 99-KL/TW về khai thác, quản trị và bảo vệ không gian tầm thấp phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới. Một trong những điểm đáng chú ý của Kết luận số 99-KL/TW là sự chuyển đổi căn bản trong cách tiếp cận đối với không gian tầm thấp. Theo đó, không gian tầm thấp không chỉ được nhìn nhận dưới góc độ quản lý hoạt động bay, mà được xác định là “tài nguyên quốc gia, không gian phát triển mới của đất nước, không gian chủ quyền đặc biệt”, gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền không phận, chủ quyền dữ liệu, an ninh mạng và các mục tiêu trọng yếu.
Theo cách tiếp cận đó, kinh tế không gian tầm thấp không đồng nghĩa với phương tiện bay không người lái (UAV). UAV chỉ là một trong những phương tiện công nghệ để khai thác không gian này. Khi UAV được kết hợp với trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu, cảm biến, viễn thông, công nghệ định vị, tự động hóa và các nền tảng số, một hệ sinh thái kinh tế mới có thể hình thành, từ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo phương tiện đến hạ tầng, dữ liệu, vận hành, dịch vụ và các ứng dụng chuyên ngành. Kết quả cuối cùng không nằm ở số lượng UAV hoạt động, mà ở năng suất được nâng lên, chi phí cắt giảm, dịch vụ cải thiện, thị trường mới hình thành và giá trị mới tạo ra cho nền kinh tế và người dân.
Kết luận số 99-KL/TW đặt ra mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu đưa vào vận hành 3 khu thử nghiệm bay cấp quốc gia, đại diện cho các vùng địa hình khác nhau và tối thiểu 1 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia về UAV. Đến năm 2045, kinh tế không gian tầm thấp trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, một trong những động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế, có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực, đóng góp khoảng 1,5% GDP quốc gia. Phấn đấu tỷ lệ nội địa hóa các dòng UAV chủ lực phục vụ sản xuất đạt trên 30-40% vào năm 2030 và đạt trên 85% vào năm 2045.
Những mục tiêu này cho thấy phát triển kinh tế không gian tầm thấp không dừng ở mở rộng thị trường ứng dụng, mà hướng tới làm chủ công nghệ, phát triển năng lực công nghiệp và từng bước hình thành chuỗi cung ứng trong nước; qua đó nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ, hạ tầng và dữ liệu chiến lược.
Hiện nay nhiều doanh nghiệp Việt Nam như Viettel, FPT, CT Group, Vietnam Post,.. đang đầu tư nghiên cứu, phát triển nhiều dòng UAV, với những mục đích ứng dụng khác nhau. Tại TPHCM, Hà Nội, Điện Biên và nhiều địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long đang thí điểm có điều kiện việc sử dụng UAV trong việc hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, vận chuyển hàng hóa, sinh phẩm y tế và hoạt động du lịch.
Theo Bộ KH-CN, bài toán đặt ra đối với các địa phương là phải xác định công nghệ phù hợp, chủ thể sử dụng, mô hình cung cấp dịch vụ, nguồn lực đầu tư và hiệu quả kinh tế - xã hội cần đạt được khi phát triển kinh tế tầm thấp nói chung và UAV nói riêng. Cách tiếp cận này giúp tránh đầu tư theo phong trào, dàn trải; hạn chế hình thành những hạ tầng và mô hình thiếu nhu cầu thực tế, không có khả năng vận hành bền vững hoặc không hình thành được thị trường. Địa phương đi trước không phải là địa phương có nhiều UAV hơn, mà là địa phương xác định đúng bài toán, tổ chức được mô hình hiệu quả và tạo ra giá trị có thể đo lường. Thước đo của thành công không phải là Việt Nam có bao nhiêu UAV trên bầu trời, mà là từ không gian phát triển mới ấy, tạo ra được bao nhiêu giá trị mới cho đất nước.