Nâng chất cung cầu sản phẩm công nghiệp văn hóa

Trong bối cảnh TPHCM đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, đào tạo nguồn nhân lực văn học nghệ thuật (VHNT) cũng đứng trước những yêu cầu thay đổi để đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Trong đó, lớn nhất là cần thay đổi, mở rộng từ không gian văn hóa và đến phương thức đào tạo.

Gắn giảng đường với không gian di sản

Một trong những yêu cầu nổi bật trong đào tạo đội ngũ làm VHNT hiện này là thu hẹp khoảng cách kiến thức giữa giảng đường và môi trường làm nghề. Tại TPHCM, mối liên kết giữa Trường Đại học Văn hóa TPHCM và Bảo tàng Chứng tích chiến tranh là một minh chứng cụ thể cho hướng đào tạo trên khi đưa không gian di sản trở thành một phần của quá trình đào tạo.

cungcaujpeg.jpg
Khách tham quan trải nghiệm công nghệ thuyết minh tự động tại Bảo tàng Tôn Đức Thắng (số 5, đường Tôn Đức Thắng, phường Sài Gòn, TPHCM). Ảnh: HỒNG DƯƠNG

Trường Đại học Văn hóa TPHCM và Bảo tàng Chứng tích chiến tranh đã ký kết thỏa thuận hợp tác. Theo đó, hai bên phối hợp trao đổi chuyên môn, tổ chức các hoạt động học thuật và triển khai các sáng kiến về văn hóa, bảo tàng, di sản. Điểm đáng chú ý của mô hình này nằm ở sự bổ trợ giữa 2 không gian.

Nhà trường có thế mạnh về đào tạo, nghiên cứu và đội ngũ chuyên môn; bảo tàng cung cấp môi trường thực hành với hệ thống tư liệu, hiện vật và hoạt động phục vụ công chúng.

Sự kết nối giữa 2 đơn vị còn được cụ thể hóa qua cơ chế phát triển nguồn nhân lực 2 chiều: nhà trường tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ, trong khi bảo tàng có thể tham gia vào quá trình đào tạo, tạo điều kiện cho sinh viên quan sát, tìm hiểu, thực tập, nghiên cứu khoa học và tiếp cận cơ hội nghề nghiệp thực tế.

Không gian bảo tàng lúc này đã trở thành “không gian học tập và thực hành nghề nghiệp”, nơi kiến thức về di sản, bảo tàng, giáo dục công chúng và truyền thông văn hóa của môi trường giáo dục được thực hành ngay trong thực tế. Đồng thời, bảo tàng có thêm cơ hội tiếp nhận tri thức chuyên môn, sự năng động của người trẻ và những cách tiếp cận mới trong kết nối công chúng.

Nhận thấy hiệu quả từ hình thức hợp tác trên, Trường Đại học Văn hóa TPHCM đang có những bước chuyển theo hướng gắn đào tạo với hệ sinh thái sáng tạo. Học liệu được số hóa, thư viện từng bước chuyển đổi; sách và giáo trình về quản lý văn hóa, di sản nghệ thuật được xuất bản trực tuyến.

Ở lĩnh vực quản lý VHNT và tổ chức sự kiện, sinh viên được hướng dẫn khai thác nghệ thuật trên không gian mạng, sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và khai thác dữ liệu lớn (Big Data) nhằm phân tích hành vi, xu hướng tiếp nhận, thưởng thức văn hóa của công chúng.

Theo PGS-TS Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa TPHCM, trước sự thay đổi của công nghiệp văn hóa, cơ sở đào tạo nên chuyển từ cách tiếp cận thuần túy theo ngành học sang gắn đào tạo với hệ sinh thái sáng tạo, trong đó đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao tri thức và hợp tác với doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ, thúc đẩy lẫn nhau.

Từ giảng đường bước ra không gian di sản yêu cầu người học phải được chuẩn bị đầy đủ hơn: từ xử lý tư liệu, xây dựng nội dung, tổ chức hoạt động giáo dục đến giao tiếp với công chúng, vận dụng công nghệ...

Đổi mới đào tạo do đó không chỉ là thêm vài môn học mới, điều quan trọng là làm sao tạo ra môi trường để người học hiểu nghề, thực hành nghề và từng bước tham gia vào chuỗi giá trị của công nghiệp văn hóa.

Vai trò của công chúng trong công nghiệp văn hóa

Đào tạo nhân lực làm VHNT chỉ mới là một phần của vấn đề, TPHCM còn đứng trước một bài toán khác: hình thành và mở rộng công chúng cho công nghiệp văn hóa. Đây là điều kiện quan trọng để các sản phẩm văn hóa có đời sống, có thị trường và tiếp tục được đầu tư.

khachthamquan.jpg
Khách tham quan trải nghiệm thuyết minh và hướng dẫn tham quan tự động tại Bảo tàng Chứng tích chiến tranh (28 Võ Văn Tần, phường Xuân Hòa, TPHCM). Ảnh: BẢO TÀNG CUNG CẤP

Số liệu thực tế từ năm 2025 cho thấy sức hút của các thiết chế văn hóa đang ngày càng thể hiện rõ hơn: hệ thống bảo tàng của TPHCM đón hơn 4,46 triệu lượt khách, tăng khoảng 40% so với năm trước và tổ chức 189 cuộc triển lãm. Trong đó, Bảo tàng Chứng tích chiến tranh tiếp tục là điểm đến có lượng khách lớn, với 1,317 triệu lượt khách thuộc nhóm thu phí.

Bảo tàng Lịch sử TPHCM đạt 175.500 lượt và Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM đạt 152.000 lượt. Những con số này cho thấy bảo tàng đang có một lượng công chúng thực tế đáng kể. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để từ những lượt tham quan ấy hình thành nhu cầu tiếp nhận, tìm hiểu và tham gia đời sống văn hóa lâu dài.

TS Phạm Ngọc Uyên, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia TPHCM), chia sẻ, phát triển công nghiệp văn hóa bên cạnh những yêu cầu về năng lực sáng tạo và đổi mới sản phẩm, còn đòi hỏi quá trình xây dựng công chúng. Trong đó, việc mở rộng các hình thức giáo dục VHNT cho công chúng, đặc biệt ở bảo tàng, có thể góp phần hình thành nhu cầu tiếp cận và khuyến khích sự tham gia của công chúng vào đời sống nghệ thuật.

Nhìn từ thực tế TPHCM, điều này đang thể hiện qua cách các bảo tàng từng bước thay đổi phương thức tiếp cận người xem. Tại Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM, đến hết năm 2024 đã có 22.212/22.671 hiện vật, tài liệu được số hóa; mã QR đã phổ biến để giúp công chúng dễ dàng tiếp cận thông tin về hiện vật.

Tại Bảo tàng Lịch sử TPHCM, audio guide (hướng dẫn tự động qua âm thanh) kết hợp mã QR giúp người tham quan chủ động lựa chọn nội dung và tốc độ tiếp nhận. Tuy nhiên, giá trị của chuyển đổi số không nằm ở việc có thêm mã QR hay một thiết bị tương tác. Điều quan trọng là công nghệ có giúp công chúng hiểu sâu hơn, lưu lại lâu hơn và tiếp tục quay trở lại với văn hóa hay không.

Nhiều bảo tàng còn đang phát triển các nội dung sau tham quan, như chia sẻ các kiến thức chuyên sâu hơn qua môi trường số, khuyến khích khách tham quan chia sẻ trải nghiệm, tham gia các chương trình giáo dục hoặc tìm đến các sản phẩm văn hóa liên quan. Thông qua những hoạt động này, bảo tàng đã dần trở thành một điểm kết nối quan trọng trong chuỗi giá trị văn hóa của thành phố.

Theo ThS Đinh Thị Thạch Ủng, Trưởng phòng Trưng bày, giáo dục, truyền thông, Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM, công nghệ số đang tác động đến nhiều khâu hoạt động bảo tàng, từ quản lý hiện vật, dữ liệu di sản đến nghiên cứu, trưng bày, giáo dục và kết nối công chúng. Vì vậy, cùng với đầu tư công nghệ, yêu cầu đặt ra là phải có đội ngũ đủ năng lực vận hành, cập nhật và phát triển những phương thức mới.

Từ đây, câu chuyện công chúng lại quay trở về câu chuyện đào tạo. Người làm bảo tàng tương lai bên cạnh thông thạo về bảo quản hiện vật, tổ chức trưng bày, còn phải hiểu công chúng, biết thiết kế trải nghiệm, khai thác dữ liệu, sử dụng công nghệ và xây dựng nội dung phù hợp với từng nhóm người xem. Người làm nghệ thuật, truyền thông, du lịch hay thiết kế cần hiểu hơn về di sản và những giá trị văn hóa mà mình đang khai thác.

Đó chính là điểm giao giữa giáo dục - đào tạo và công nghiệp văn hóa. Một bên tạo ra nguồn nhân lực, một bên xây dựng và hình thành công chúng; nối hai bên là các thiết chế văn hóa, doanh nghiệp và không gian sáng tạo. Khi những mắt xích này được kết nối, giá trị văn hóa mới có điều kiện dịch chuyển từ tri thức, hiện vật và tác phẩm thành trải nghiệm, sản phẩm và có sức sống trong đời sống xã hội.

* TS NGUYỄN TRỌNG MINH, Chuyên gia Bảo tàng Chứng tích chiến tranh:

Công nghệ không thay thế con người

Giá trị giáo dục của hoạt động số không nằm ở việc sử dụng công nghệ mới đến đâu, mà ở cách tổ chức và mức độ tham gia của công chúng. Với các nội dung văn hóa, lịch sử, nhất là những tư liệu nhạy cảm, cần có nhân lực, quy trình giám tuyển, kiểm chứng thông tin, bảo đảm nguyên tắc đạo đức, quyền của người tham gia và các yêu cầu về dữ liệu, bản quyền.

Công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi giúp công chúng hiểu sâu hơn và chủ động tham gia vào quá trình tiếp nhận, sáng tạo văn hóa.

* TS TRẦN VĂN THÀNH, Trường Đại học Công thương TPHCM:

Nhà trường và doanh nghiệp cùng kiến tạo

Gắn kết đào tạo VHNT với doanh nghiệp công nghiệp văn hóa không nên dừng ở việc tiếp nhận sinh viên thực tập. Doanh nghiệp cần tham gia từ cung cấp thông tin về nhu cầu nghề nghiệp, góp ý chương trình đào tạo, hỗ trợ dự án, cử chuyên gia đến phản hồi, đánh giá sản phẩm của người học.

Khi sự hợp tác được tổ chức thường xuyên, nhà trường có thêm thông tin từ thực tiễn nghề nghiệp, còn người học được tiếp cận môi trường sáng tạo và nhận biết yêu cầu thực tế của thị trường.

Tin cùng chuyên mục