Siết chặt điều kiện mở ngành và tuyển sinh
Thảo luận tại tổ về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027, đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung (Đoàn Đại biểu QH TP Hà Nội) cho biết, cả nước hiện có 72 cơ sở đào tạo nhân lực y tế trình độ đại học, gồm 32 cơ sở công lập và 40 cơ sở ngoài công lập; trong đó có 30 cơ sở đào tạo chuyên khoa và bác sĩ nội trú. Tuy nhiên, công tác tuyển sinh có sự chênh lệch lớn về điểm chuẩn đầu vào giữa các cơ sở.
Năm 2026, ngành Y khoa của ĐH Y Dược TPHCM có điểm chuẩn 27,95; Trường ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch lấy 25,8 điểm; Trường ĐH Văn Lang và Trường ĐH Quốc tế Hồng Bàng cùng lấy 22 điểm theo phương thức sử dụng kết quả thi tốt nghiệp THPT...
TS Võ Văn Tuấn, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang nhìn nhận, chất lượng đầu vào có ý nghĩa quan trọng với đào tạo bác sĩ. Kiến thức nền tảng, khả năng tư duy, năng lực học tập và ý thức trách nhiệm ảnh hưởng lớn đến việc đáp ứng yêu cầu của chương trình chuyên môn cao, kéo dài, nhiều áp lực như y khoa.
Theo TS Võ Văn Tuấn, không thể xem nhẹ điểm tuyển sinh, càng không nên cho rằng mọi khác biệt về năng lực đầu vào đều dễ dàng được bù đắp trong quá trình đào tạo. Chỉ căn cứ vào điểm chuẩn để kết luận chất lượng bác sĩ sau tốt nghiệp là chưa đầy đủ. Điểm chuẩn còn chịu ảnh hưởng của chỉ tiêu, số thí sinh đăng ký, mức độ cạnh tranh và phương thức xét tuyển.
PGS-TS Đỗ Văn Dũng, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật TPHCM (nay là Trường ĐH Công nghệ Kỹ thuật TPHCM), cho rằng, đào tạo bác sĩ liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng người dân, nên điều kiện mở ngành và tuyển sinh phải được kiểm soát chặt chẽ.
"Đầu vào là bộ lọc đầu tiên quan trọng. Khi năng lực người học khác biệt mà điều kiện thực hành chưa được kiểm soát sẽ dẫn đến nguy cơ chất lượng đầu ra không đồng đều. Đánh giá cơ sở phải dựa trên năng lực giảng viên cơ hữu, giảng viên lâm sàng; số giường bệnh thực tế phục vụ đào tạo; tỷ lệ sinh viên trên giảng viên và giường bệnh. Hợp đồng bệnh viện phải được kiểm tra qua thực hiện, thay vì chỉ xem hồ sơ", PGS-TS Đỗ Văn Dũng chia sẻ.
Về quy mô đào tạo, theo PGS-TS Đỗ Văn Dũng, chỉ tiêu tuyển sinh bác sĩ năm 2023 là 14.447, năm 2024 tăng lên 18.290, năm 2025 là 18.076; số tốt nghiệp năm 2025 đạt 12.086 người. Trong khi đó, mục tiêu đặt ra là đạt tỷ lệ 15,3 bác sĩ/10.000 dân trong năm 2026 và tăng lên 15,5/10.000 dân trong năm 2027.
Với giả định dân số 100 triệu người, mức tăng tương đương khoảng 2.000 bác sĩ, đặt ra yêu cầu rà soát quy mô, dự báo nhu cầu đào tạo. Tuy nhiên, mức tăng chỉ tiêu bác sĩ trên số dân chưa phản ánh đầy đủ nhu cầu tuyển mới. Cần tính thêm nhân lực thay thế người nghỉ hưu, biến động lao động, phát triển hệ thống y tế và phân bố theo địa bàn, chuyên ngành.
“Chỉ tiêu phải căn cứ vào năng lực thực hành, nhất là nguồn lực bệnh viện và đội ngũ hướng dẫn. Mở rộng đào tạo khi chưa bảo đảm điều kiện có thể gây lãng phí nguồn lực xã hội, ảnh hưởng chất lượng chăm sóc người bệnh”, PGS-TS Đỗ Văn Dũng nhấn mạnh.
Đào tạo đi vào thực chất
“Điểm trúng tuyển cao phản ánh tính cạnh tranh trong tuyển sinh, nhưng chưa phải là sự bảo đảm tuyệt đối về năng lực hành nghề sau 6 năm đào tạo. Nhà trường phải nhận diện hạn chế của người học để hỗ trợ, đồng thời giữ nghiêm yêu cầu đánh giá. Sinh viên chưa đạt năng lực cần thiết phải được bổ sung kiến thức, rèn luyện và đánh giá lại trước khi chuyển sang nội dung chuyên môn tiếp theo”, TS Võ Văn Tuấn nhận định.
Theo TS Võ Văn Tuấn, Trường ĐH Văn Lang có thể đầu tư hệ thống thực hành, mô phỏng và hợp tác với cơ sở y tế..., nhưng không thể thay thế hoàn toàn thực hành lâm sàng có hướng dẫn, giám sát và bảo đảm an toàn.
Từ thực tiễn đào tạo Dược học, PGS-TS Nguyễn Vũ Quỳnh, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Lạc Hồng, cũng cho rằng, chất lượng phải được xem xét qua đội ngũ, chương trình, điều kiện thực hành, chất lượng thực tập, năng lực khi tốt nghiệp và kết quả việc làm.
Sinh viên ngành Dược phải vận dụng kiến thức vào kiểm nghiệm thuốc, tư vấn sử dụng thuốc an toàn và tuân thủ đạo đức nghề nghiệp. Những năng lực này cần được đánh giá bằng hình thức phù hợp, thay vì chỉ dựa vào điểm thi lý thuyết. Nhà trường gắn lý thuyết với thực hành thông qua phòng thí nghiệm, thiết bị kiểm nghiệm, nghiên cứu và hoạt động nghiệp vụ dược.
“Kiểm định không phải là đích đến cuối cùng, mà phải là công cụ giúp nhà trường liên tục cải tiến chất lượng”, PGS-TS Nguyễn Vũ Quỳ khẳng định.
Với mục tiêu cuối cùng là chữa bệnh, đặt lợi ích người bệnh lên hàng đầu, PGS-TS Đỗ Văn Dũng đề xuất siết chặt điều kiện mở ngành y, xem xét nâng ngưỡng đầu vào, điều chỉnh quy mô để ưu tiên chất lượng. Kiểm định phải đi cùng kiểm tra định kỳ điều kiện thực hành, thực hiện cam kết đào tạo.
Các trường cần công khai tỷ lệ tốt nghiệp, tỷ lệ có việc làm đúng chuyên môn, phản hồi của đơn vị sử dụng lao động và kết quả đánh giá năng lực hành nghề khi có dữ liệu.
“Đánh giá đầu ra phải phản ánh năng lực chuyên môn, khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng lâm sàng; gắn đánh giá độc lập với trách nhiệm nhà trường”, PGS-TS Đỗ Văn Dũng khẳng định.
* GS-TS TRẦN DIỆP TUẤN, Hiệu trưởng ĐH Y Dược TPHCM:
Kiểm định chương trình đào tạo theo bộ tiêu chuẩn chuyên biệt
Bên cạnh đầu vào, chất lượng đào tạo bác sĩ còn phụ thuộc vào chương trình đào tạo dựa trên chuẩn năng lực; đội ngũ giảng viên tại trường và cơ sở thực hành; sự phối hợp giữa nhà trường với bệnh viện. Người học phải được đánh giá khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng chuyên môn, thay vì chỉ kiểm tra lý thuyết.
Khi bệnh viện tiếp nhận sinh viên từ nhiều trường, nhiều chương trình, khả năng hướng dẫn và cơ hội thực hành có thể bị ảnh hưởng. Do đó, việc đưa sinh viên đến bệnh viện phải có kế hoạch, giảng viên phụ trách và trách nhiệm đánh giá cụ thể.
Cần phát huy vai trò đánh giá năng lực hành nghề cấp quốc gia, kiểm định chương trình đào tạo theo bộ tiêu chuẩn chuyên biệt dành cho đào tạo bác sĩ y khoa, phù hợp chuẩn mực quốc tế. Nếu chỉ tập trung vào số bác sĩ hoặc điều dưỡng trên dân số thì chưa phản ánh đầy đủ nhu cầu của hệ thống y tế.
Khi thiếu vị trí bổ trợ, bác sĩ phải làm thêm công việc có thể giao cho nhân lực được đào tạo phù hợp, làm thu hẹp thời gian dành cho nhiệm vụ cốt lõi.
Cần nghiên cứu phát triển nhân lực chuyên thực hiện kỹ thuật siêu âm, tư vấn di truyền, điều dưỡng thực hành; chú trọng đào tạo y sĩ phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu. Đối với y sĩ, cần đào tạo theo vai trò nghề nghiệp riêng, không liên thông lên bác sĩ.
* LS-ThS TRỊNH HỮU CHUNG, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Gia Định:
Nhà trường không thể tự đánh giá khép kín
Tuyển sinh khối ngành sức khỏe không thể chỉ dựa vào nhu cầu thị trường để tăng quy mô khi trường chưa đủ năng lực đáp ứng. Trường ĐH Gia Định hiện có khoảng 72 giảng viên cơ hữu tham gia đào tạo khối ngành sức khỏe, đồng thời phối hợp với các cơ sở y tế để tổ chức thực hành.
Hoạt động này phải phục vụ mục tiêu đào tạo, phù hợp chương trình và chuẩn đầu ra từng ngành. Sinh viên cần được đánh giá cả kiến thức, kỹ năng thực hành, thái độ nghề nghiệp và khả năng tuân thủ quy trình.
Nhà trường không thể tự đánh giá khép kín; phản hồi từ cơ sở thực hành, đơn vị tuyển dụng và dữ liệu theo dõi người học sau tốt nghiệp phải được sử dụng để rà soát, cải tiến chương trình.
* BS LÊ ANH TUẤN, Trưởng phòng Kế hoạch Tổng hợp, Bệnh viện Nhân dân 115:
Phối hợp chặt giữa nhà trường và bệnh viện
Thực hành lâm sàng cần giúp sinh viên vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng và hình thành thái độ nghề nghiệp. Vì vậy, việc tiếp nhận sinh viên phải phù hợp với khả năng hướng dẫn, điều kiện chuyên môn và hoạt động khám chữa bệnh của từng khoa. Nhà trường và bệnh viện cần thống nhất kế hoạch, mục tiêu từng đợt thực tập, quy mô nhóm và trách nhiệm người hướng dẫn.
Sinh viên phải được phân công nhiệm vụ phù hợp trình độ, có giám sát, phản hồi và đánh giá cụ thể. Không nên chỉ xác nhận đủ thời gian thực tập mà cần làm rõ người học đạt được năng lực gì. Khi nhiều trường cùng đưa sinh viên đến thực hành, cần phối hợp lịch và phân bổ hợp lý, tránh tập trung quá đông tại một khoa, ảnh hưởng cơ hội học tập và công tác điều trị.